26/05/2015

Sáu loài Thu hải đường (Begoniaceae) mới cho khoa học từ vùng núi đá vôi Bắc Việt Nam

Begonia-caobangensis-Credit-TrinhNgocBon
Các nhà thực vật Việt Nam và Đài Loan vừa hợp tác công bố 6 loài Thu hải đường  mới cho khoa học được phát hiện từ vùng núi đá vôi phía Bắc Việt Nam ở các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Thanh Hoá. Chúng bao gồm Begonia caobangensis [sect. Platycentrum], B. circularis, B. melanobullata, B. langsonensis, B. locii and B. montaniformis [sect. Coelocentrum]

Chi Begonia (Thu hải đường) trên thế giới có khoảng 1400 loài. Ở việt nam có khoảng 70, toàn bộ đều là cây thân thảo, phân bổ chủ yếu ở rừng thường xanh nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Mới đây các nhà khoa học Trung Hoa và Việt Nam đã công bố thêm 6 loài thu hải đường mới cho Miền Bắc nước ta. 

Begonia-new-from-Viet-nam
Bản ảnh màu và đen trắng: 1-2: Begonia caobangensis; 3-4: Begonia circularis; 5-6: Begonia langsonensis; 7-8: Begonia locii; 9-10: Begonia melanobullata; 11-12: Begonia montaniformis. Thiết kế bởi C. W. Lin.

1. Loài Begonia caobangensis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo, hoa đơn tính cùng gốc, lâu năm. Thân rễ bò, dày 1-2 cm, lóng dài 0,2-0,5 cm,. Lá hình elip hay hình thoi, lá non có màu đỏ cả hai mặt, lá già có màu đỏ mặt dưới và xanh ở mặt trên, nhẵn, dài 8-21cm, rộng 4-8cm, gân phụ lá 6-8 đỉnh có mũi nhọn. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng, dài 2-2,5 cm, rộng 0,7-1 cm Cụm hoa ở đỉnh hoặc ở nách lá cuối, phân nhánh 3-4 lần; cuống 8-12 cm dài, có lông hoặc không. 

Phân bố ở Hồ Thang Hen – Trà Lĩnh – Cao Bằng, ngoài ra còn bắt gặp ở Na Hang – Tuyên Quang

2. Loài Begonia circularis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ mập, bò, dày 1,2-2 cm. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng đến hình tam giác. Cuống lá màu đỏ để màu đỏ-xanh, dài 5-9,5 (-14) cm, có lông màu hồng. Lá có hình dạng thay đổi. Phiến lá hình lưỡi không đối xứng, hình trứng rộng đến elip rộng, dài 13,5-21 cm, rộng 9,5-17 cm, đáy hình tim, có đuôi ở đỉnh, mép lượn sóng hay có răng,bề mặt hơi có lằn, phiến là màu xanh xậm, có vòng xanh nõn chuối vòng quanh, có 6-8 gân từ đáy lá, 2-3 cặp gân ở trên. Cụm hoa ở nách lá, phân nhánh 3-5 lần, cuống dài 9 – 16cm; lá bắc màu đỏ, hình thuôn đến hình trứng, dài 8mm, rộng 2,5-4mm; Hoa đực có cuống dài 1-2cm, cánh hoa 4, dài 14-19mm, rộng 13-16mm, màu đỏ, nhị nhiều, bao phấn màu vàng; hoa cái có cuống dài 7-10mm, cánh hoa 3, màu hồng nhạt, 2 cánh ngoài hình trứng rộng dài 7-17mm, rộng 8-13mm, bầu nàu đỏ, có 3 vòi nhụy màu vàng cam, dài 6-10mm; quả có 3 cạnh hình elips, dài 10-17mm, màu đỏ tươi. 

Phân bố ở Thạch An – Cao Bằng

3. Loài Begonia melanobullata C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc, cây lâu năm. Thân rễ leo cao đến 50cm, đường kính 1-2,5cm, lóng dài 1-2cm. Lá kèm màu vàng đến xanh nhạt, hình trứng – hình tam giác, dài 1,4-2,5cm, rộng 1-1,8cm, có lông ở gân. Cuống lá màu đỏ đến xanh, dài 8-21cm, có lông trắng khi non. Lá hình lưỡi lệch, hình trứng rộng đến hình elip, dài 13-21cm, rộng 9-15cm, đáy hình tim, có đuôi ở đỉnh, có lông khi non, gân từ đáy 7-9, gân thứ cấp 2-4 đôi. Cụm hoa mọc từ thân, phân nhánh 4-6 lần; cuống dài 15-38cm, có lông. Lá bắc màu xanh nhạt, hình trứng, dài 1cm, màu đỏ. Hoa đực có cuống dài 1,5 cm, cánh hoa 4; 2 cánh ngoài hình trứng dài 6-9mm rộng 7-9mm, màu đỏ, lông thưa; 2 cánh trong hình elip, dài 5-7mm, rộng 3-4mm, bao phấn màu xanh hơi vàng. Hoa cái có cuống dài 1,5cm, 3 cánh hoa; hai cánh ngoài màu hồng nhạt, dài 7-8mm, rộng 7-8mm; cánh trong màu hồng nhạt, hình elip, dài 4-6mm, rộng 2-3mm. Có bai vòi nhụy, dài 8-10mm, màu đỏ. Quả có 2 cánh, dài 12-19mm, màu xanh lục hoặc đỏ khi tươi, cánh rộng 2-4mm. 

Phân bố ở Thạch An – Cao Bằng 

4. Loài Begonia langsonensis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ bò, đến 10cm. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ xanh nhạt, hình trứng tam giác, dài 7-10mm, rộng 1-1,1mm, có mũi ở đỉnh dài 3mm. Cuống lá màu nâu nhạt, dài 13-15cm. Lá hình lưỡi không đối xứng hay hình trứng xiên, dài 11-23cm, rộng 6-14cm, đáy hình tim, đỉnh có đuôi, có răng cưa nhỏ ở mép lá, màu xanh ngọc, gân từ đáy 6-8, gân bên 2-4 đôi. Cụm hoa ở nách, phân nhánh 4-6 lần, cuống dài 12-26cm, lá bắc màu xanh nhạt đến màu hồng nhạt, hình trứng. Hoa đực có cuống dài 2,2cm, 4 cánh hoa, 2 cánh hoa ngoài có kích thước 10-15x11-14mm, màu hồng nhẵn; 2 cánh hoa trong màu hồng nhạt, hình mác, dài 6-9mm, rộng 2,5-3,5cm; nhị 25-40, màu vàng; Hoa cái có cuống dài 1,8-2,6cm, cánh hoa 3, 2 cánh ngoài màu hồng hoặc hồng nhạt, dài 11-15mm, rộng 13-18mm, cánh tróng màu hồng nhạt. dài 7-11mm, rộng 3-4mm. buồng trứng màu xánh lá cây đến màu hồng nhạt, dài 12-15mm, 3 nuốm nhụy màu vàng. Quả có 3 cánh, dài 13-16mm, màu xanh lục. 

Phân bố ở Tân Lai – Hữu Liên – Hữu Lũng – Lạng Sơn

5. Loài Begonia locii C.-I Peng, C. W. Lin & H. Q. Nguyen 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ bò, đến 30cm. Lóng dài 5-13mm, có lông. La kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng đến hình tam giác, dài 6-14mm, rộng 5-9mm, có lộc dọc theo gân, đỉnh có mũi dài 2,5mm. Cuống lá màu xanh nâu, có lông, dài 20 (11)-25 (33) cm. Lá hình trứng xiên, không đối xứng, dài 11-22cm, rộng 6,5-12,5cm, thùy đáy hình trái tim, đỉnh nhon, có lông màu đỏ tười mặt dưới, mặt trên canh lá cây, có các đốm trắng bạc dọc theo gân cấp hai. Cụm hoa từ nách lá, chia nhánh 3-4 lần, cuống dài 13-35cm, có lông dày, lá bắc màu xanh đến vàng xanh. Hoa đực cuống dài 1cm, 4 cánh hoa, 2 canhsn goài hình trứng rộng, dài 9-12mm, rộng 8-11mm, màu hồng nhạt hay trắng, nhẵn, 2 cánh trong hình elip, màu trắng, dài 7-11mm, rộng 3-4,5mm. Hoa cái cuống dài 1 cm, 3 cánh hoa, 2 cánh ngoài màu hồng nhạt đến trắng, hình trứng rộng, dài 8-11mm rộng 8-12mm, màu trắng. Quả có 3 nuốm nhụy còn tồn tại, màu xanh, có lông. 

Phân bố ở Tân Lai – Hữu Liên – Hữu Lũng – Lạng Sơn

6. Loài Begonia montaniformis C.-I Peng, C. W. Lin & H. Q. Nguyen 

Cây thảo, cây có hoa đực và hoa cái cùng ở chung một thân, lâu năm. Thân rễ mập, bò, dài 30 cm, lóng dài 0,5-1,7 cm, Có lông. Lá kèm màu xanh nhạt đến màu hồng nhạt, hình trứng-hình tam giác, dài 0,7-1,4 cm, rộng 0,6-1,3 cm, có lông dọc theo gân chính, đỉnh có mũi dài 0,2 cm. Cuống lá màu đỏ đến màu xanh tía, dài 7-20 cm, có lông trắng dày. Lá hình trứng rộng dài 11,5-19 cm, rộng 8-13,5 cm, đáy hình tim, màu tím ô liu hay màu đen xanh nâu, gân từ đáy 7-9 cái, màu xanh nhạt, trên bề mặt có những hình nón nhô cao khỏi mặt lá vào 4-8 (10)mm, Màu đỏ vùng rỗng ở mặt dưới, có lông màu nâu nhạt mặt dưới, gân thứ cấp 2-4 cặp. Cụm hoa ở nách lá, phân nhánh 3-8 lần, cuống dài 11-28cm. có lông; lá bắc sớm rụng, hình thuyền, dài 1 cm, rộng 0,5cm, có lông thưa. Hoa đực dài 1-2cm, 4 cánh hoa, 2 cánh ngoài hình trứng đến, dài 7-12mm, rộng 6-10cm, màu vàng xanh, 2 cánh trong màu xanh, hình elip, dài 6-8mm, rộng 3-5mm. Hoa cái có cuống dài 1,4-2cm, cánh hoa 3, 2 cánh ngoài hình trứng, màu vàng đỏ xanh, đến vàng xanh, dài 8-12mm, rộng 9-13mm, cánh bên trong màu vàng xanh, hình elip, dài 8mm, rộng 2,5-4,5mm. 

Phân bố ở Eo Điếu – Cổ Lũng – Bá Thước – Thanh Hóa

Công bố này được đăng tải trên tạp chí Botanical Studies 2015, 56:9, ngày 2 tháng 5, 2015.

Biên tập: Trịnh Ngọc Bon

Botanical Studies 2015, 56:9 doi:10.1186/s40529-015-0089-3
Published: 2 May 2015 

Six new species of Begonia (Begoniaceae) from limestone areas in Northern Vietnam

Ching-I Peng, Che-Wei Lin, Hsun-An Yang, Yoshiko Kono and Hieu Quang Nguyen

Abstract

Background: Species of Begonia are richly represented in limestone karst areas across the Sino-Vietnamese border. More than one hundred species were known, many of which were documented recently. 
Results: In continuation of our systematic studies of Asian Begonia, we report six species of Begonia that are unknown to science, namely B. caobangensis [sect. Platycentrum], B. circularis, B. melanobullata, B. langsonensis, B.locii and B. montaniformis [sect. Coelocentrum] from Northern Vietnam. Diagnostic features that separate them from morphologically allied species are provided. Somatic chromosome numbers were determined, which supports their placement in the respective sections. Foliar SEM microphotographs were taken and described. 
Conclusion. A careful study of the literature, herbarium specimens and living plants, both in the wild and in cultivation in the experimental greenhouse, supports the recognition of the six new species, which are described and illustrated.

The complete article is available as a provisional PDF. The fully formatted PDF and HTML versions are in production. 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!