09/08/2014

Chiến lược và chính sách bảo tồn đa dạng sinh học

hue-da-hoa-den-Peliosanthes-nutans
Huệ đá hoa đen Peliosanthes nutans, một loài mới phát hiện cho khoa học từ Quảng Nam, 2012. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) - Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức về bảo vệ và phát triển tài nguyên ĐDSH. Theo thống kê từ 1958 đến nay, có tới gần 100 văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam liên quan đến bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướng dẫn thi hành lần lượt được ban hành. Có thể nói đây là cơ sở pháp lý thực hiện bảo vệ ĐDSH. 
Năm 1962, Cục Kiểm lâm được thành lập cùng với sự ra đời rừng cấm Cúc Phương-rừng cấm đầu tiên của Việt Nam. Năm 1985, Chiến lược Bảo tồn Quốc gia của Việt Nam (NCS) được ban hành. Đây là một chiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước đang phát triển. 

Năm 1993 Việt Nam đã ký công ước quốc tế về ĐDSH. Công ước được Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn vào tháng 10/1994. Để thể hiện những cam kết và trách nhiệm của mình, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành xây dựng Kế hoạch hành động ĐDSH (BAP) với sự hỗ trợ về tài chính của UNDP, GEF trong khuôn khổ dự án VIE/91/G31 cùng với sự giúp đỡ về kỹ thuật của WF, IUCN. BAP được Thủ Tướng chính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 12 năm 1995. Đây là văn bản có tính pháp lý và kim chỉ nam cho hành động của Việt Nam trong việc bảo vệ ĐDSH ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương, các ngành và các đoàn thể. 
Cũng thời gian trên, Việt Nam đã tham gia Công ước bảo tồn ĐNN Ramsar, Công ước Quốc tế về buôn bán các loài hoang dại có nguy cơ tuyệt chủng (CITES). Để thực hiện CITES, Chính Phủ đã chỉ định Cục Kiểm lâm (Bộ NN & PTNT) đại diện cho Nhà nước và là cơ quan quản lý cấp phép việc buôn bán động thực vật hoang dại. Viện ST&TNSV và Trung tâm nghiên cứu TN&MT (Đại học Quốc gia Hà Nội) là cơ quan có thẩm quyền tư vấn khoa học của Việt Nam. 
Trong giai đoạn từ 1999 đến nay, một số các văn bản mang tính pháp lý liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác bảo tồn ĐDSH đã được ban hành. Các văn bản này rõ ràng đã cho thấy mối quan tâm của Chính phủ và các ngành chủ quản đến tài nguyên sinh vật và ĐDSH. Mặt khác, các văn bản này là cơ sở để các cấp có thẩm quyền thực hiện công tác bảo tồn một cách có hiệu quả. 
Bộ luật hình sự năm 1999. Bộ luật này dành một chương quy định các tội phạm môi trường. Trong đó, có các điều khoản liên quan trực tiếp đến ĐDSH như: Tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183); Tội gây ô nhiễm đất (Điều 184); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động, thực vật (Điều 187); Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188); Tội huỷ hoại rừng ( Điều 189); Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190); Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191). Các điều khoản này với những hình phạt nghiêm khắc nhưng mang tính giáo dục cao. Bộ luật Hình sự chắc chắn sẽ góp phần ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐDSH. 
- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các khu đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến 2020. 
- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại. 
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/1/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp. 
- Quyết định số 34/1999-QĐ/TCCB ngày 12/2/1999 của Bộ trưởng Bộ NNPTNT về việc ban hành quy chế làm việc giữa Cục Kiểm lâmvới vườn Quốc Gia. 
- Quyết định 43/2000/QĐBNN-TCCB ngày 19/4/2000 về việc lập văn phòng CITES ở Việt Nam. 
- Nghị định 03-2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của luật doanh nghiệp. Trong đó, tại điều 3, khoản k, mục 1 công bố: Nuôi động vật hoang dã là ngành nghề cấm kinh doanh. Việt Nam cũng là quốc gia ký Công ước CITES về Bảo vệ các loài động vật hoang dã, trong đó có các loài gấu. 
- Quyết định số 08-2001/QĐ-TTg, ngày 11/1/2001 của Thủ tướng CP về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Quy định việc nghiên cứu, giảng dạy trong các rừng đặc dụng phải được Ban quản lý khu rừng cho phép và tuân theo hướng dẫn của Ban quản lý, phải trả tiền thuê hiện trường và các dịch vụ cần thiết cho Ban quản lý. 
- Nghị định số 13/2001/NĐ-CP được ban hành thay thế nghị định số 07/CP năm 1996 về quản lý giống cây trồng. 
- Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001-2005. 
- Nghị định số 11/2002/NĐ-CP, ngày 22/1/2002 của Chính phủ về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài thực, động vật hoang dã. 
- Nghị định sô 17/2002/NĐ-CP ngày 08/02/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 77/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. 
- Nghị định số 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về Bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN. 
- Luật Thủy Sản đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11năm 2003 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 10/12/2003. Trong luật này, có các điều khoản về quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản. 
Trong Giai đoạn 1999-2002, Bên cạnh các văn bản mang tính pháp lý của các cấp Chính phủ, Bộ đã ban hành, một số các cơ sở bao gồm cơ quan quản lý (Cục Môi trường), các viện nghiên cứu chuyên ngành và tư pháp đã phối hợp xây dựng các quy chế liên quan đến bảo tồn và phát triển ĐDSH. 
Năm 1998, Nhiêm vụ Cơ sở khoa học quy hoạch các khu bảo tồn biển đã được các chuyên gia của phân viện HDH Hải Phòng thực hiện. Một trong những kết quả của nhiệm vụ này là xây dựng bản thảo lần 1 Quy chế quản lý các khu bảo tồn biển bao gồm 27 khoản trong 4 chương. 
“Báo cáo đánh giá hiện trạng ĐDSH của Việt Nam” được tập thể các nhà nghiên cứu thuộc Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật phối hợp với một số cán bộ thuộc Cục Môi trường, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Phân viện Hải dương học Hải Phòng, ĐHQG Hà Nội thực hiện năm 1999. Báo cáo này là cơ sở để xây dựng báo cáo Quốc gia về việc thực hiện Công ước ĐDSH của Việt Nam. 
Dự án IUCN về Hệ thống hoá các văn bản pháp lý về ĐNN được thực hiện năm 2000. 
Năm 2001, Nhiệm vụ “Cơ sở khoa học xây dựng quy chế sử dụng, bảo vệ và phát triển nguồn gen sinh vật ở Việt Nam” được các chuyên gia của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và Cục Môi trường thực hiện. Một trong những kết quả của nhiệm vụ này là bản thảo lần 1 của Quy chế sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật được đề xuất. Quy chế này có 26 điều khoản trong 5 chương bao gồm các vấn đề chính là bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật, quản lý nguồn gen và lần đầu tiên đề cập đến quyền lợi, nghĩa vụ của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn ĐDSH. 
Năm 2001, nhiệm vụ Xây dựng danh mục hệ thống chính sách cần thiết để thực hiện công ước ĐDSH và công ước Ramsa được Cục Môi trường phối hợp với Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường thực hiện. Nghiên cứu này đã kiến nghị xây dựng cơ chế, chính sách và kế hoạch triển khai thực hiện Công ước Ramsa và Công ước ĐDSH tại Việt Nam. 
Chiến lược bảo vệ và phát triển bền vững ĐNN Việt Nam. Đề án này do Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES) chủ trì cùng nhiều cơ sở nghiên cứu khác thực hiện. Nội dung của Đề án bao gồm: Đánh giá vai trò, chức năng và ĐDSH của các loại hình ĐNN, hiện trạng Dân sinh-Kinh tế-Xã hội và tình hình sử dụng cũng như mối đe doạ vùng ĐNN và đề xuất các phương án quy hoạch sử dụng lâu dài. 
Năm 2000-2001, trong khuôn khổ hợp tác giữa tổ chức nghiên cứu và phát triển quốc tế Canada (IDRC) phối hợp với Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam và Cục Môi trường (Bộ KHCN&MT, dự án Xây dựng văn bản pháp luật về tiếp cận tài nguyên di truyền thực vật ở Việt Nam được thực hiện. Một trong những kết quả của dự án này là đưa ra Dự thảo khung văn bản pháp luật Việt Nam về tiếp cận và chia sẻ lợi ích các tài nguyên di truyền thực vật. 
Năm 2000, Cục Môi trường đã thành lập Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia (NSEP). NSEP là khung quản lý môi trường cho thời kỳ 2001-2010. Chiến lược đã được nghiên cứu gần 3 năm, với sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều bộ, tỉnh, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên ngành. Một trong 3 mục tiêu chiến lược của NSEP là Bảo vệ, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH. Trong NSEP, 42 chương trình ưu tiên để thực hiện các mục tiêu chiến lược và cụ thể về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH đã được đề xuất. Trên cơ sở các chương trình đề nghị trong NSEP, cùng với các dự án của BAP, GEF Việt Nam đã đề xuất 64 dự án ưu tiên về bảo tồn ĐDSH của Việt Nam nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của GEF. 
Năm 2002, Bộ Thuỷ sản đã công bố bản dự thảo lần thứ VII (10/8/2002) Quy chế quản lý các khu Bảo tồn biển bao gốm 26 điều trong 6 chương. Quy chế này sẽ do Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn và ban hành. 
Nhận xét chung các văn bản pháp luật 
Cho đến nay đã có khoảng 100 các văn bản Nhà nước mang tính pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bảo vệ tài nguyên sinh vật và ĐDSH của Việt Nam. Các văn bản mang tính pháp luật là cơ sở rất quan trọng về mặt pháp lý cho thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ ĐDSH. 
Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo vệ ĐDSH tuy đã được hình thành nhưng còn có nhiều khiếm khuyết và bất cập. Việt Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào tương đối hoàn chỉnh để bảo đảm thực hiện Công ước này. Các văn bản hiện hành mới chỉ tập trung vào việc bảo tồn ĐDSH, trong khi đó, Công ước ĐDSH nêu ra ba mục tiêu: 1/. Bảo tồn ĐDSH; 2/. Sử dụng lâu bền tài nguyên; 3/. Chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụng tài nguyên gen. 
Các nội dung liên quan đến những thiếu sót này từ 1999 đến nay đã được đề cập nhưng mới trong giai đoạn nghiên cứu cơ sở xây dựng các quy chế dưới dạng bản thảo như nêu ở trên.

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!