09/08/2014

Thành tựu, khó khăn và thách thức bảo tồn Đa dạng Sinh học

moi-cung-ngan-truc-Stereochilus-brevirachis
Loài lan Môi cứng ngắn trục Stereochilus brevirachis rất hiếm phát hiện ở Sơn La, Việt Nam, 2009. Loài này trước đây chỉ được biết đến là những cây trồng ở Trung Quốc. Đây là một phần kết quả điều tra đa dạng sinh học do Trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt nam (CPC) tổ chức. Ảnh Leonid Averyanov.
(BiodiVn) Theo thống kê. kẻ từ khi ban hành BAP đến nay có khoảng 100 các dự án với các mức độ khác nhau đã và đang được thực hiện theo các mục tiêu và hành động của BAP. Trong đó, có hơn 50 dự án của BAP đề xuất đã và đang được thực hiện ở các mức độ khác nhau. Hầu hết các dự án này định hướng về xây dựng và quản lý các khu bảo vệ và Nâng cao nhận thức chung. Một số các dự án khác đề xuất trong BAP nhưng vì một số lý do chưa được thực hiện.

Một số chương trình Nhà nước có các đề tài liên quan đến bảo tồn ĐDSH
- Trong chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 về Bảo vệ Môi trường và phòng tránh thiên tai (mã số KC.08) có một số các đề tài liên quan đến kiểm kê, đánh giá, xây dựng mô hình quản lý tài nguyên sinh vật và ĐDSV của một số vùng lãnh thổ như vùng lưu vực sông Đà, vùng Quảng Bình-Quảng Trị.
- Chương trình Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển (KC.09) có một số đề tài liên quan đến xây dựng cơ sở dữ liệu sinh vật biển Việt Nam, Nguồn lợi thuỷ sản xa bờ, phục hồi các HST san hô, cỏ biển, khắc phục môi trường biển tự sinh.
- Chương trình nghiên cứu khoa học cơ bản giai đoạn 1996-2000 đã có 51 đề tài nghiên cứu về ĐDSH với kinh phí ước tính 3,5 tỷ đồng VN. Kết thúc giai đoạn này, chương trình KHCB đã tổ chức một Hội thảo quốc gia về Sinh học tại Hà Nội. Chương trình khoa học cơ bản, trong đó có các nội dung về công tác bảo tồn ĐDSV đang được tiếp tục triển khai giai đoạn 2001-2003.
- Chương trình đánh giá tác động lâu dài của chất độc hoá học (CĐHH) của Hoa Kỳ sử dụng trong chiến tranh đến môi trường và sức khoẻ con người (chương trình 33), giai đoạn 2000-2003 có 3 đề tài đánh giá tác động lâu dài của chất da cam/dioxin đến đa dạng sinh vật khu vực A Lưới (Thừa Thiên-Huế), Mã Đà (Đồng Nai) và một số khu vực lân cận với kinh phí ước tính 6-7 tỷ đồng VN.
Một số các chương trình, đề án các cấp được thực hiện ở một số Bộ/Ngành và các Cơ sở nghiên cứu chuyên ngành
Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn 
Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn là Bộ vừa ban hành nhiều quy chế, chỉ thị mang tính pháp lý liên quan đến kiểm soát buôn bán phi pháp động, thực vật hoang dại, quản lý các khu rừng cấm khai thác gỗ, bảo tồn cây, con đồng thời còn thực hiện nhiều nhất các chương trình và dự án liên quan đến bảo vệ ĐDSV. Có khoảng 40 chương trình và dự án của ngành Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. Trong đó, nổi bật là các chương trình và đề án:
- Chương trình trồng 5 triệu ha rừng. Trong đó, có 2 triệu ha rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và 3 triệu ha rừng sản xuất, thời gian thực hiện từ 1998-2010. Chương trình này với tổng kinh phí dự tính đến 2,5 tỷ US$ trong vòng hơn 10 năm là một bước tiến mới có ý nghĩa quan trọng về chính sách phát triển rừng của Việt Nam;
- Xây dựng và mở rộng các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên. Đưa diện tích các khu bảo vệ từ 952.822 ha lên trên 2,5 triệu ha;
- Đề xuất Bảo vệ và Quản lý 15 khu ĐNN;
- Trong số 11.784.589 ha đất lâm nghiệp hiện có, tính đến tháng 12/2003 đã giao và công nhận quyến sử dụng hợp pháp cho các chủ rừng. Trong đó đáng lưu ý là đã giao khoán trên 2,7 triệu ha rừng cho hộ gia đình và tập thể quản lý bảo vệ rừng;
- Quản lý ĐDSH ở hầu hết các vườn Quốc gia và một số Khu bảo tồn thiên nhiên;
- Thành lập 11 Vườn Thực vật, 3 Trung tâm cứu hộ;
- Quản lý các vùng đệm các vườn Quốc gia;
- Cộng đồng tham gia và chia sẻ lợi ích trong công tác bảo tồn;
- Điều tra, thống kê, đánh giá hiện trạng và ảnh hưởng của các cây trồng, vật nuôi nhập nội với các loài bản địa.
Các chương trình và đề án thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã góp phần rất quan trọng trong công tác Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam trong thời gian qua.
Bộ Thuỷ sản
Bộ Thuỷ sản cũng đã ban hành một số quy chế mang tính pháp lý liên quan đến bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Để thực hiện kế hoạch hành động ĐDSH, ngành Thuỷ sản đã và đang thực hiện một số chương trình, đề án như sau:
- Chương trình Đánh bắt hải sản xa bờ: chương trình này của ngành Thuỷ sản được bắt đầu thực hiện từ 1997. Chương trình được thực hiện để giảm bớt cường độ khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản vùng nước ven bờ vốn đã bị suy kiệt từ nhiều năm nay;
- Bảo tồn nguồn gen và giống thuỷ sản nước ngọt;
- Nuôi gia hoá một số loài cá nước ngọt đang bị đe doạ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên;
- Phát triển nuôi cá ở miền núi ;
- Sản xuất giống nhân tạo các loài cá biển, tôm, cua, thân mềm;
- Điều tra, thống kê, đánh giá hiện trạng và ảnh hưởng của các loài thuỷ sản nhập nội với các loài bản địa;
- Điều tra nghiên cứu nguồn lợi cá xa bờ (bao gồm cả kinh phí của Việt Nam và của JICA);
- Dự án nguồn lợi cá ven bờ (Dự án DANIDA);
- Điều tra, nghiên cứu nguồn lợi sinh vật và ĐDSH vùng biển Trường Sa;
- Xây dựng thí điểm khu Bảo tồn biển Hòn Mun;
- Điều tra nghiên cứu hiện trạng nghề cá ven bờ và của một số đảo lớn ven bờ;
- Nghiên cứu bảo tồn rùa biển;
- Xây dựng mạng lưới giám sát và tiêu chuẩn hoá các thông số đánh giá chất lượng nước các thuỷ vực nuôi trồng thuỷ sản.
Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 
Là cơ sở nghiên cứu được nhà nước giao trách nhiệm trong lĩnh vực nghiên cứu ĐDSH (đại diện cho cả nước). Thời gian qua, viện đã phối hợp với nhiều cơ quan nghiên cứu, các trường Đại học thực hiện có kết quả nhiều chương trình, dự án liên quan đến bảo tồn, phục hồi ĐDSH như sau:
- Đánh giá tình trạng ĐDSH chung cho cả Việt Nam;
- Đề án soạn thảo Danh lục đỏ (Red List) Việt Nam và Sách Đỏ (Red Data Book) Việt Nam theo tiêu chuẩn IUCN đã được thực hiện từ 2001, hiện nay đã xong bản thảo;
- Đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2003: Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện bộ động chí, thực vật chí Việt Nam. Đề tài này là tiếp nối Đề án “ Soạn thảo Động vật, thực vật chí Việt Nam” do Viện STTNSV chủ trì đã được thực hiện liên tục từ 1980 trở lại đây. Từ đó, hàng chục tập sách chuyên khảo của nhiều nhóm thực vật, động vật đã được xuất bản;
- Đề án hợp tác Bảo tồn thực vật Việt Nam giữa Viện STTNSV với Vườn Thực vật Missouri Hoa Kỳ. Các kết quả của đề án này đã phát hiện nhiều chi, loài thực vật mới bổ sung cho Danh lục thực vật Việt Nam;
- Đề án Tài nguyên thực vật các nước Đông Nam Á (Prosea);
- Dự án Đa dạng gen của hai loài tre ở Việt Nam (Dự án Châu Á Thái Bình Dương do Nhật Bản tài trợ);
- Đề tài nhà nước về Đánh giá tác động lâu dài của chất da cam/dioxin đến ĐDSH khu vực A Lưới (Thừa Thiên-Huế) và phụ cận. Đề tài thực hiện trong 3 năm 2000-2002;
- Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu thực vật, động vật Việt Nam (phần lục địa). Đề án thực hiện 2 năm 2002-2003;
- Điều tra, nghiên cứu ĐDSH cho các vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn;
- Tham gia đánh giá tác động môi trường các công trình xây dựng, chủ trì các vấn đề đánh giá tác động môi trường của công trình đến HST và ĐDSH;
- Tham gia các dự án bảo vệ ĐDSH tiểu vùng, xuyên biên giới, các dự án của WWF, FFI, IUCN, Birdlife, Care...
Viện Hải dương học Nha Trang cùng với Phân viện HDH Hải Phòng 
Là cơ sở đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu điều tra cơ bản tài nguyên và đa dạng sinh vật biển Việt Nam. Thời gian qua, để thực hiện kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam, các cơ quan nghiên cứu biển này đã thực hiện một số các chương trình, dự án như sau:
- Đề án Hợp tác xây dựng các khu bảo tồn San hô
- Các đề án nghiên cứu nuôi một số loài cá cảnh rạn san hô, các loài động vật thân mềm.
- Tham gia thực hiện dự án Nghiên cứu bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng (PRA) (do CIDA/IDRC của Canada tài trợ).
- Tham gia Dự án ADB 5712-REG giai đoạn 2 đã soạn thảo một chiến lược Quốc gia cho việc quản lý Môi trường biển và ven biển Việt Nam.
Một số dự án khác
Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) là một cơ chế tài chính hỗ trợ chính cho việc thực hiện hai công ước Công ước đa dạng sinh học và Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu. Việt Nam là nước có tiềm năng đa dạng sinh vật cao và có giá trị toàn cầu. Đánh giá cao sự hỗ trợ của GEF, Việt Nam đã tham gia vào các hoạt động của tổ chức này để tăng cường công tác bảo vệ đa dạng sinh vật. Trong lĩnh vực ĐDSH, hiện nay được Chính phủ Việt Nam phê duyệt, GEF đã tài trợ một số dự án đang tiếp tục thực hiện: 
- Dự án "Xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên trên cơ sở xây dựng quan điểm xây dựng quan điểm sinh thái cảnh quan" (VIE/95/G31 & 031) (dự án PARC). Dự án thực hiện trong 5 năm, bắt đầu thực hiện từ 1999. Mục tiêu của dự án xây dựng mô hình trình diễn có hiệu quả trong việc bảo tồn ĐDSH của Việt Nam. Trên cơ sở sử dụng quan điểm sinh thái cảnh quan (phân chia khu bảo tồn thành các phân khu với các mức độ bảo vệ khác nhau) nhằm giảm bớt đe doạ tới ĐDSH thông qua kết hợp giữa sự bảo tồn và phát triển. Dự án này chọn 3 khu vực nghiên cứu điểm: Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn), Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang), Khu Bảo tồn thiên nhiên Yok Đôn (Đắc Lắc);
- Dự án “Bảo tồn các loài cây trồng bản địa và họ hàng hoang dại của chúng ở Việt Nam”;
- Một số dự án được tổ chức Trung tâm ĐDSH Asean (ARCBC) tài trợ ngân sách trong 3 năm 2001-2003 khoảng 0,5 triệu USD. Các dự án theo hướng điều tra khu hệ, phân loại học và sinh thái một số nhóm sinh vật (bộ phận ĐDSH) như sau:
+ Đánh giá ĐDSH khu di sản thế giới Hạ Long (Phân viện HDH Hải Phòng);
+ Bảo vệ Tò vò cánh màng có ích ở trong và ngoài các khu bảo tồn Việt Nam (Viện STTNSV);
+ Dựa vào cộng đồng trong việc bảo vệ tài nguyên thuỷ sản Thuân An và Phá Tam Giang (Đại học TH Huế);
+ Nghiên cứu ĐDSH kiến ở Việt Nam (Viện STTNSV);
+ Bảo vệ 4 loài cá quý hiếm ở sông Gâm (Viện nuôi trồng Thuỷ sản I);
+ Vai trò phân cắt nơi ở trong việc đe doạ tuyệt diệt loài Cycas (Viện STTNSV);
+ Khu hệ cá ở vùng núi đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng (Đại học Vinh);
+ Trồng cây thuốc hiếm và bị đe doạ tiêu diệt tại vườn rừng của người dân tộc thiểu số (Viện STTNSV);
+ đa dạng loài rêu ở khu bảo tồn Vũ Quang (trường Đại học KHTN Hà Nội).
Rõ ràng rằng công tác điều tra cơ bản cũng như nghiên cứu về khu hệ sinh vật, tài nguyên sinh học và các biện pháp bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam đã được thực hiện từ khá lâu. Tuy nhiên do những yếu tố khách quan và chủ quan mà có những giai đoạn, vùng lãnh thổ chưa được nghiên cứu đầy đủ.

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!