09/08/2014

Kết quả đạt được sau bảy năm thực hiện BAP

lan-loc-son-lockia-sonii
Lan lộc sơn Lockia sonii, loài mới phát hiện 2012 từ Sơn La. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) Năm 1998, đã có một Hội thảo Đánh giá 3 năm việc thực hiện BAP, giai đoạn 1996-1998. Đến năm 2002, đã có một dự án Đánh giá việc thực hiện kế hoạch hành động ĐDSH từ năm 1995 đến 2002 và đề xuất các hoạt động có liên quan cho giai đoạn 2003-2010 được thực hiện do Đại học quốc gia Hà Nội chủ trì (Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý). 
Các kết quả đã đạt được trong giai đoạn 1996-1998
Từ những ý tưởng đã được nêu trong BAP, các kết quả thực hiện BAP trong 3 năm, thời gian 1996-1998 được đánh giá trong cuộc Hội thảo xem xét lại kế hoạch Hành động ĐDSH của Việt Nam với mục tiêu Đánh giá tình trạng thực hiện BAP, xác định những thiếu sót chính và nêu bật các vấn đề mới nổi cần chú ý. Nhìn chung, tại Hội thảo này, các ý kiến cho rằng kết quả thực hiện BAP trong thời gian 1996-1998 là rất lớn và được tóm tắt trong bảng dưới.

Tóm tắt các kết quả chính trong 3 năm thực hiện BAP (1996-1998)
Các đề xướng về chính sách/luật pháp
Chỉ thị về bảo tồn các loài có giá trị cao trong nông nghiệp
Các chỉ thị về kiểm soát buôn bán phi pháp các loài động, thực vật hoang dại
Cấm khai thác gỗ ở các rừng tự nhiên
Các đề xướng về thiết lập và quản lý các khu bảo vệ
Các ban quản lý đã được thành lập cho 10 Khu bảo vệ
Các nghiên cứu khả thi đầu tư được Chính phủ phê chuẩn cho 50% các Khu bảo vệ trên cạn
Hơn 100 Khu Bảo vệ mới được đề xuất để Chính phủ xem xét.
Loại 12 Khu bảo vệ ra khỏi danh sách các Khu bảo vệ
Mở rộng và/hoặc bổ xung 69 Khu bảo vệ, đưa tổng diện tích các Khu bảo vệ từ 952.822 ha lên 2.297.571 ha
Đề xướng các nghiên cứu về khái niệm vùng đệm và các cách tiếp cận quản lý và các điểm trình diễn
Đề xuất 15 Khu bảo vệ biển và 15 Khu bảo vệ ĐNN đang được chuẩn bị
2 Hội thảo cấp Quốc gia và 3 Hội thảo cấp Khu vực đã được tổ chức để điều phối những nỗ lực của Việt Nam và CHDCND Lào nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên ĐDSH xuyên biên giới chung
Các hoạt động nâng cao nhận thức chung
Nhiều Hội thảo, kháo đào tạo cho các nhà quản lý, các nhà ra quyết định, sinh viên ở cấp Trung ương và các địa phương
Nhiều sáng kiến nâng cao thông tin và nhận thức về ĐDSH qua đài phát thanh, truyền hình và báo chí
Các sáng kiến Xây dựng năng lực và Đào tạo
Đào tạo về bảo tồn ĐDSH và quản lý rừng cho 900 nhân viên kiểm lâm (10% tổng số)
Các kháo đào tạo ngắn hạn, hội thảo trong và ngoài nước cho các nhà quản lý, các nhà khoa học của các Bộ, ngành khác nhau.
Thiết lập trong Cục Môi trường các dữ liệu về ĐDSH và năng lực quản lý thông tin ĐDSH.
Đào tạo cán bộ cho 10 bộ, ngành và các Viện Khoa học cách tiếp cận thông tin về ĐDSH trên mạng Internet
Nghiên cứu và Bảo tồn ngoại vi
Xây dựng Viện bảo tàng các giống vi sinh vật tại Đại học QGHN
Nâng cấp Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học phân tử và Phòng thí nghiệm nuôi tế bào tại Viện Di truyền Nông nghiệp
Phát động chương trình 5 năm bảo tồn gen cây thuốc của Bộ Y tế.
Dự thảo thành lập 11 vườn Bách thảo đã được soạn thảo
Nguồn : Cục Môi trường, IUCN, 2000.
Những thiếu sót 
Bên cạnh việc ghi nhận các kết quả dạt được, Hội thảo đánh giá thực hiện BAP đã chỉ ra một số thiếu sót cơ bản và yêu cầu những nỗ lực mới cần bổ sung:
- Tăng cường điều phối thể chế và làm rõ trách nhiệm về ĐDSV của các cơ quan, Bộ, ngành khác nhau;
- Tăng cường nhận thức chung, giáo dục và đào tạo;
- Giải quyết một mảng lớn các vấn đề như di nhập các loài ngoại lai, tiếp cận các nguồn tài nguyên gen và chia sẻ lợi ích, lồng ghép những quan tâm về ĐDSV vào các đánh giá tác động môi trường, du lịch bền vững và ĐDSV biển, ven biển và nước ngọt.
Đánh giá các ưu khuyết điểm trong việc thực hiện BAP giai đoạn từ 1996-2002
Đến năm 2002, trong khuôn khổ dự án Đánh giá việc thực hiện kế hoạch hành động ĐDSH từ năm 1995 đến 2002 và đề xuất các hoạt động có liên quan cho giai đoạn 2003-2010, sau khi phân tích tổng hợp các dẫn liệu, một số nhận định về các ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện BAP cùng với một số kết luận như sau:
Kể từ khi Chính phủ ban hành BAP năm 1995, đặc biệt là việc thực hiện các dự án đề xuất của BAP, cho đến nay công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH ở nước ta đã có những kết quả quan trọng. Nếu nhìn nhận các kết quả đã đạt được trong bối cảnh chúng ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh lâu dài, nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, là một nước đang phát triển vào loại nghèo nhất trên thế giới thì mới thấy hết giá trị của những thành quả đã đạt được trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam. So với các nước đang phát triển trong khu vực, Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH và phát triển tài nguyên sinh vật và được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao. Các kết quả cho thấy công tác bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam đã hoà nhập với khu vực và thế giới, thậm chí Việt Nam được xem như là nước dẫn đầu khu vực Đông Nam á trong lĩnh vực thực hiện công tác bảo tồn ĐDSH.
- Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng. Trong đó, có 2 triệu ha rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và 3 triệu ha rừng sản xuất, thời gian thực hiện từ 1998-2010 đã có những thành tích rất quan trọng, tỷ lệ phủ rừng từ 27,2% năm 1990 cho đến 2000 là 33,2%, sơ bộ đánh giá kỹ thuật đến tháng 6/2002 là 34,4%. Mục tiêu của chương trình trồng và phục hồi 5 triệu ha rừng đến năm 2010 sẽ đưa diện tích đất được rừng che phủ đạt khoảng 45%;
- Chương trình Đánh bắt hải sản xa bờ của ngành Thuỷ sản được bắt đầu thực hiện từ 1997. Chương trình được thực hiện để giảm bớt cường độ khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản vùng nước ven bờ vốn đã bị suy kiệt từ nhiều năm nay. Đặc biệt, năm 1998, Bộ Thuỷ sản đã soạn thảo Kế hoạch tổng thể Phát triển Thuỷ sản đến 2020. Kế hoạch Tổng thể này đã quan tâmđến nguy cơ nghiêm trọng về suy thoái sinh thái ven biển nhưng đồng thời cũng quan tâm đến cơ hội lớn nhất cuat ngành thuỷ sản Việt Nam trong tương lai. Thời gian gần đây, sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong những năm gần đây đã làm giảm áp lực khai thác thuỷ sản tự nhiên. Theo thống kê, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2002 ước tính 0,95 triệu tấn, chiếm 41% sản lượng thuỷ sản. Kế hoạch đến 2010 tỷ lệ này sẽ chiếm tới 60% sản lượng thuỷ sản;
- Bảo vệ tài nguyên đất ngày càng được quan tâm và đã thu được một số kết quả bước đầu. Theo báo cáo của Chính phủ, hiện đang thực hiện các biện pháp quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc một cách khoa học; Tăng cường đầu tư, triển khai các dự án nâng cao trình độ canh tác trên các vùng sinh thái không thuận lợi; Thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên; Tăng cường công tác làm giàu đất;
- Bảo vệ tài nguyên nước đang được quan tâm hàng đầu, Chính phủ đã triển khai chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm góp phần tích cực cho phương thức quản lý bền vững nguồn tài nguyên nước.
Các ưu điểm
Triển khai kế hoạch hành động ĐDSH (BAP) ngay từ đầu ở các cấp Trung ương, các ngành/Bộ, các cơ quan quản lý và cơ quan khoa học và ở các cấp địa phương (tỉnh/thành phố).
Có thể thấy hệ thống luật pháp quốc gia về bảo vệ môi trường nói chung, về bảo tồn ĐDSH nói riêng của Việt Nam đã được xây dựng, đang được kiện toàn trong vòng 10 năm và ngày càng hoàn thiện trong khi, theo đánh giá của các chuyên gia UNDP, để đạt được điều đó, nhiều nước phát triển đã phải mất khoảng 50 năm.
Kể từ khi bắt đầu triển khai kế hoạch hành động ĐDSH cho đến nay, BAP đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học, các nhà hảo tâm nước ngoài về kỹ thuật, về kinh nghiệm và nhất là về kinh phí thực hiện. Hầu hết các Dự án được tài trợ từ kinh phí của các tổ chức Quốc tế đều có kết quả tốt. Điều quan trọng hơn cả là thông qua các dự án quốc tế này, đã đào tạo và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ Việt Nam làm công tác nghiên cứu, quản lý ĐDSH. 
Các Bộ/Ngành, các địa phương đã có rất nhiều các sáng kiến lồng ghép công tác bảo tồn ĐDSH trong các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế-xã hội thuộc trách nhiệm của mình.
Hàng năm, Bộ KHCN&MT (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đều có Báo cáo hiện trạng môi trường. Trong đó có công tác bảo tồn ĐDSH để trình Quốc hội và Chính phủ. Đặc biệt trong 7 năm qua, chúng ta đã có 2 hội thảo quốc gia đánh giá kết quả thực hiện BAP (1998) và đề xướng các điều chỉnh bổ sung cần thiết cho thời gian tới (2000).
Cho đến nay, chúng ta đã nhận thức được rằng một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ ĐDSH là tính xã hội hoá bảo tồn ĐDSH. Việc bảo tồn ĐDSH phải được xem là nhiệm vụ của toàn dân, đặc biệt cộng đồng dân cư lân cận các khu bảo tồn thiên nhiên. Việc giáo dục nhận thức cũng như tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao cuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm là yếu tố then chốt để bảo đảm thành công bảo tồn các khu rừng đặc dụng và ĐDSH. 
Cần nhấn mạnh đến việc đã nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và quảng đại quần chúng, học sinh, sinh viên, các đoàn thể, các phụ lão, các cựu chiến binh... đối với việc bảo vệ ĐDSH. Họ đã đóng góp rất quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH ở các địa phương, các vùng, và các HST... 
Đánh giá tác động môi trường các dự án đầu tư, trong đó có đánh giá tác động đến ĐDSH nhìn chung đã đi vào nền nếp, góp phần quan trọng khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế song song với bảo vệ môi trường nói chung, bảo tồn ĐDSH nói riêng. 
Ba mục tiêu lâu dài cũng như trước mắt của BAP đã được thực hiện về cơ bản. Tuy vậy, để thực hiện tốt hơn nữa hành động bảo tồn ĐDSH trong giai đoạn tới, chúng ta cần phân tích các nhược điểm và thiếu sót còn tồn tại.
Các vấn đề tồn tại cần khắc phục
Các văn bản pháp luật là một công cụ chính sách quản lý ở tầm vĩ mô. Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo vệ ĐDSH tuy đã được hình thành (khoảng 100 văn bản) nhưng vẫn còn có khiếm khuyết và bất cập. Việt Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm có tính pháp luật nào tương đối hoàn chỉnh để bảo đảm thực hiện Công ước này. Các văn bản pháp luật liên quan đến sử dụng lâu bền tài nguyên sinh vật, đặc biệt việc chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụng tài nguyên gen và bảo tồn ĐDSH đã được đề cập nhưng mới trong giai đoạn nghiên cứu cơ sở xây dựng các bản thảo quy chế như nêu ở trên.
Bộ KHCN&MT được Thủ tướng chỉ định là cơ quan then chốt thực hiện BAP. Bộ này có nhiệm vụ quan trọng là “Chủ động bàn bạc với các Bộ/Ngành khác và địa phương có liên quan”. Tuy nhiên, trong thời gian qua, Bộ KHCN&MT chưa thực sự phát huy hết chức năng và quyền hạn của mình. Điều đó làm phát sinh những chệch choạc giữa một số Bộ/Ngành khi cùng sử dụng chung tài nguyên ĐDSH hoặc còn tình trạng mạnh ngành nào, ngành ấy cùng thực hiện nhiệm vụ của mình trong cùng một HST. Ví dụ như có những sự không thống nhất trong việc khai thác và sử dụng rừng ngập mặn giữa ngành Nông nghiệp và Thuỷ sản, khai thác sử dụng và quản lý Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn giữa ngành Nông nghiệp và Du lịch.
Sự bất cập hiểu biết về yêu cầu bảo tồn ĐDSH của nhiều cán bộ quản lý, cấp ra quyết định của nhiều ngành, địa phương chỉ biết nghĩ đến các dự án phát triển của mình mà quyên đi hoặc coi nhẹ công tác bảo tồn ĐDSH. Ví dụ dự án Nâng cao chất lượng nước Hồ Tây, Đường Hồ Chí Minh, hồ Thuỷ điện Đầu Đẳng (Bắc Kạn), di nhập ốc bươu vàng, chuột hải ly...Nhiều dự án kinh tế-xã hội quan trọng mà không hề quan tâm đến đánh giá tác động môi trường và bảo tồn ĐDSH.
Công tác tuyên truyền giáo dục về bảo tồn ĐDSH cho các tầng lớp nhân dân, học sinh, sinh viên... kể cả khách du lịch trong và ngoài nước còn nặng về hình thức, ít có hiệu quả.
Công tác quản lý các vườn Quốc gia, khu Bảo tồn vẫn chưa tốt, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Tại một số các vườn Quốc gia, trong khu bảo vệ nghiêm ngặt vẫn còn dân cư sinh sống (Vườn Quốc Gia Ba Bể, Nam Cát Tiên…). ĐDSV các nơi này vẫn tiếp tục bị suy giảm. Cũng chưa thực hiện tốt các cam kết của Chính phủ đã ký các Công ước quốc tế. 
Chưa quan tâm và làm tốt công tác phát triển kinh tế – xã hội vùng đệm các vườn Quốc gia, khu bảo tồn. Đặc biệt, chưa có được quy chế pháp lý có tính khả thi để cộng đồng địa phương được tham gia và được hưởng lợi trong công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH ở các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn. 
Công tác nghiên cứu khoa học về ĐDSH chưa có hệ thống, nhiều biện pháp bảo tồn được đề xuất nhưng chưa đủ căn cứ khoa học và thực tế. Cán bộ khoa học về ĐDSH vừa yếu về chuyên môn, thiếu về số lượng. Cơ sở vật chất và kinh phí cấp cho hoạt động này quá ít, đặc biệt là các cơ sở thực hiện công tác nghiên cứu lưu giữ các cây, con, nguyên liệu di truyền (bảo tồn ngoại vi, ex-situ).
Mặc dù có cố gắng nhưng kinh phí của Nhà nước cho vấn đề bảo vệ ĐDSH còn thấp. Kinh phí của các tổ chức Quốc tế và một số Quốc gia thông qua các hình thức tài trợ cho công tác bảo vệ ĐDSH Việt Nam hiện nay là rất quan trọng. Phải đổi mới tổ chức, tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dự án của GEF. Trong thời gian qua, việc sử dụng các khoản vốn bao gồm cả vốn huy động trong và ngoài nước còn có những hạn chế đã làm giảm hiệu quả của các dự án. 
Chưa xây dựng được Trung tâm cơ sở số liệu quốc gia về ĐDSH chung cho cả nước. Đồng thời chưa có biện pháp khả thi cho việc trao đổi thông tin về ĐDSH giữa các cơ sở nghiên cứu và cơ sở quản lý các cấp.
Cần bổ sung cho BAP những năm tới các nội dung tiếp cận mới về công tác bảo tồn ĐDSH như: Bảo tồn ĐDSH biển, ven biển, ĐNN, kiểm soát các loài nhập nội, du lịch bền vững, quản lý sinh vật biển đổi gen, an toàn sinh học, đa dạng văn hoá, tin học hoá các thông tin về ĐDSH.
Việc di nhập các loài ngoại lai đều có các mục đích khác nhau như nuôi trồng, làm cảnh, cải tạo giống.... Tuy nhiên, việc di nhập loài ngoại lai đã có một số vấn đề tiêu cực đến bảo tồn quỹ gen bản địa phải lưu ý như xảy ra hiện tượng tạp giao dẫn đến không có quần thể bản địa thuần chủng như trước hoặc việc di nhập các loài nuôi kèm theo việc di nhập một số mầm bệnh bản xứ (ký sinh trùng gây bệnh) mà trước đây không thấy có. Bởi vậy, bên cạnh các quy định có tính chất pháp lý bắt buộc trong công tác kiểm dịch động, thực vật thì các ngành có trách nhiệm như Bộ Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cần ban hành quy trình khảo nghiệm, đánh giá các giống loài nhập nội trước khi đưa ra sản xuất rộng rãi.
Việc thi hành luật pháp trong công tác bảo tồn ĐDSH chưa đạt hiệu quả. Cần thiết phải phân cấp, nâng cao trách nhiệm, quyền hạn cho các cơ quan chức năng thực thi bảo tồn ĐDSH (Kiểm lâm, Kiểm ngư, Kiểm dịch cửa khấu, Hải quan…). Công tác thanh tra, giám sát còn yếu.
Từ những phân tích, đánh giá công tác thực hiện BAP kể từ khi ra đời cho đến 2002, dự án này đã đề xuất các dự án ưu tiên của kế hoạch hành động đa dạng sinh vật (BAP) cho giai đoạn 2003-2010. Các dự án ưu tiên trong BAP giâi đoạn này vẫn lấy các mục tiêu trước mắt và lâu dài như cũ nhưng sắp xếp thành 14 kế hoạch hành động và 86 dự án ưu tiên có thứ tự từ 1-86 và cũng phân trong 3 nhóm: Chiến lược-Chính sách: 26 dự án; Quản lý và Bảo tồn ĐDSH: 35 dự án và Hỗ trợ: 25 dự án. 14 Kế hoạch hành động ĐDSH ưu tiên là:
- Tổ chức và quản lý điều phối;
- Khung pháp lý, luật pháp, thể chế;
- Các cam kết quốc tế ;
- Đầu tư ;
- Xây dựng và quản lý khu bảo tồn ;
- Sử dụng bền vững ĐDSH;
- Bảo tồn ĐDSH cây trồng, vật nuôi;
- Bảo tồn ngoại vi;
- Đánh giá tác động lên ĐDSH;
- Giáo dục và nâng cao nhận thức;
- Đào tạo và tăng cường năng lực;
- Nghiên cứu khoa học;
- Thông tin, quan trắc và cơ sở dữ liệu;
- Vai trò của cộng đồng tư nhân và tổ chức phi chính phủ (NGO).
Các dự án đã được viết dưới dạng đề cương tóm tắt theo bản hướng dẫn của quốc tế gồm 10 tiểu mục: Tên dự án; thuộc kế hoạch hành động nào; Mục tiêu; mức ưu tiên; lý do; phạm vi (nội dung); thời gian; địa điểm; cơ quan chịu trách nhiệm; và kinh phí.

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!