10/08/2014

Bảo tồn nguyên vị (tại chỗ, nội vi, in-situ)

sao-la-Pseudoryx-nghetinhensis
Khu Bảo tồn thiên nhiên Sao La, Thừa Thiên Huế được thành lập với mục đích bảo tồn nguyên vị loài Sao la tại sinh cảnh tự nhiên của chúng. Ảnh WWF
(BiodiVn) Bảo tồn nguyên vị hay bảo tồn tại chỗ, bảo tồn nội vi, bảo tồn in-situ là biện pháp bảo vệ tại chỗ tất cả các HST, các nơi sinh cư và các loài trong môi trường tự nhiên của chúng. Có thể nói đây là biện pháp hữu hiệu nhất bảo tồn tính ĐDSH. 
Thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên
Việc hình thành các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau. Quá trình hình thành các khu rừng đặc dụng có thể tóm tắt như sau:

- Giai đoạn từ 1962-1975 : Ngành Lâm nghiệp đã đề xuất 49 khu rừng đặc dụng ở phía Bắc Việt Nam, mở đầu là quyết định thành lập khu rừng cấm Cúc Phương;
- Giai đoạn 1976-1986 : Chính phủ quyết định thành lập thêm 10 khu rừng đặc dụng đầu tiên với diện tích 44.310 ha. Bước tiến quan trọng nhất là quyết định 194/CT ngày 9/8/1986 thành lập hệ thống khu rừng đặc dụng của Việt Nam gồm 73 khu với tổng diện tích là 769.512 ha (2 Vườn quốc gia, 46 Khu bảo tồn thiên nhiên, 25 Khu văn hoá lịch sử và môi trường);
- Từ 1987 cho đến 2005, có 126 khu bảo tồn được thành lập với tổng số diện tích trên 2,5 triệu ha, chiếm 6,7% diện tích tự nhiên. Trong đó, có 27 vườn quốc gia với tổng diện tích 957.330ha.
Các khu bảo tồn ở Việt Nam
TT
Kiểu đặc dụng
Số lượng
Diện tích (ha)
1
Vườn Quốc gia
27
957.330
2
Khu bảo tồn thiên nhiên
60
1.369.058

- Khu dự trữ thiên nhiên
49
1.283.209

- Khu bảo tồn loài, sinh cảnh
11
85.849
3
Khu bảo vệ cảnh quan
39
215.287
Tổng cộng
126
2.541.675
Nguồn: Phòng Bảo tồn Cục Kiểm lâm, tháng 12/2003.
- Trong 15 Khu bảo tồn biển hiện nay, có 8 khu đã được xác định trong luận cứ khoa học-kỹ thuật: Quần đảo Cô Tô, đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ, phá Tam Giang-Cầu Hai, cụm Hải Vân-hòn Sơn Trà, cụm Hòn Mun-Bích Đầm, Côn Đảo và Trường Sa. Số còn lại trong danh mục đã được xác định tư liệu khoa học và bước đầu đánh giá tiềm năng bảo tồn;
- Dự án “ Xây dựng khu bảo tồn thí điểm biển tại Hòn Mun” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (công văn 1177/CP-QHQT ngày 20/12/2000) và đang được Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng kết hợp với IUCN thực hiện;
- Được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam và sự trợ giúp của ADB và Cơ quan Hợp tác và phát triển Thuỵ Sĩ, Dự án ADB 5712-REG giai đoạn 2 đã soạn thảo một chiến lược Quốc gia cho việc quản lý Môi trường biển và ven biển Việt Nam. Một trong những hợp phần của Chiến lược này là đã đề xuất 26 khu bảo tồn biển và ven biển với tổng diện tích 495.000 ha (232.700 ha trên cạn và 262.300 ha vùng nước) bao gồm 6 khu bảo tồn biển và ven biển mới. Trong đó, 20 vùng được đánh giá là ưu tiên nhằm triển khai các nghiên cứu sinh học...Cũng trong khuôn khổ dự án này, lần đầu tiên ở Việt Nam, đã trình diễn tại Côn Đảo các hợp phần kế hoạch phân vùng chức năng bảo tồn ĐDSH biển; cơ sở quy hoạch du lịch sinh thái cho Côn Đảo.
Các cố gắng bảo tồn HST, nơi sinh cư
Một hình thức bảo tồn nguyên vị khác là không nhất thiết chỉ bảo tồn bên trong các vùng bảo vệ mà có thể là hình thức bảo tồn trong trang trại của nông dân (on-farm conservation). Hình thức này là quan trọng đặc biệt cho sự bảo tồn một số giống cây ăn quả truyền thống như vải thiều Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên, bưởi Đoan Hùng, bưởi Năm Roi ở Vĩnh Long, vườn quả Lái Thiêu... Trên diện rộng, đã có một số các dự án bảo tồn vùng sinh thái, nơi sinh cư và duy trì các loài như : Đề án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Mê kông , Đề án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng (1990-1993). 
Quản lý vùng đệm
Vùng đệm không thuộc quyền quản lý của Ban quản lý các khu rừng đặc dụng, nhưng Ban quản lý có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương của vùng đệm để nâng cao đơì sống của nhân dân và lôi cuốn họ tham gia vào công tác bảo vệ các khu rừng đặc dụng.
Sau quá trình quản lý hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam, một bài học sâu sắc được rút ra là: nếu không có sự hỗ trợ và tham gia của người dân sống trong vùng đệm thì công tác bảo vệ các khu rừng đặc dụng không thể đạt kết quả. Tuy nhiên, việc quy hoạch, đặc biệt cơ sở khoa học phân định ranh giới vùng đệm ở Việt Nam còn có những điều cần phải giải quyết.

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!