10/08/2014

Bảo tồn chuyển vị (chuyển chỗ, ngoại vi, ex-situ)

cong-Pavo-muticus-imperator
Vườn thú Hà Nội hiện đang là một nơi bảo tồn chuyển vị loài Công và rất nhiều loài đọng vật hoang dã khác. Ảnh Phạm Văn Thế
(BiodiVn) Bảo tồn ngoại vi hay bảo tồn chuyển chỗ, bảo tồn chuyển vị, bảo tồn ex-situ là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu quả trong bảo tồn và phát triển ĐDSH. Biện pháp bảo tồn ngoại vi là chuyển dời và bảo tồn các loài hoặc các nguyên liệu sinh học của chúng trong môi trường mới không phải là nơi cư trú tự nhiên vốn có của chúng. Bảo tồn ngoại vi bao gồm bảo quản giống, loài, nuôi cấy mô, thu thập các cây để trồng và các loài động vật để nuôi nhằm duy trì vốn gen quý hiếm cho sự nghiên cứu khoa học, nâng cao dân trí và giáo dục lòng yêu thiên nhiên cho mọi tầng lớp nhân dân.

Xuất phát từ tầm quan trọng của bảo tồn ngoại vi, Các cơ quan quản lý nhà nước đã có những hành động thực hiện công tác này. Năm 1987, Uỷ ban Khoa học & Kỹ thuật Nhà nước, nay là Bộ KHCN&MT ban hành quyết định số 582/NSY, ngày 5/11/1987 về “ Quy định tạm thời về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lưu giữ, sử dụng nguồn gen và giống thực vật, động vật và vi sinh vật”. Sau 10 năm thực hiện, ngày 30/12/1997, Bộ trưởng Bộ KHCN&MT đã có quyết định chính thức số 2177/977/QĐ-BKHCN&MT về việc ban hành Quy chế quản lý và bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật và vi sinh vật.
Sau khi Chính phủ phê duyệt và ban hành BAP, công tác bảo tồn ngoại vi đã chú ý. Một số cơ sở bảo tồn ngoại vi mới đã được thành lập: vườn cây, vườn thú, bảo quản hạt giống…. Riêng về bảo tồn nguồn gen thực vật cho tới 1995 đã có 4 đề tài cấp nhà nước bao gồm Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Y tế và cây cao su. Sau đây là một số các biện pháp bảo tồn ngoại vi đã được thực hiện ở Việt Nam.
Các vườn thực vật
Cho đến nay, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã thành lập 11 vườn thực vật bao gồm các vườn cây thuốc, cây công nghiệp, cây giống... Các loài cây trồng phổ biến ở Việt Nam được thống kê có khoảng 734 loài, thuộc 79 họ được gieo trồng. Trong đó, có nhiều loài có giá trị sử dụng cao. Tuy nhiên, nhiều loài cây vẫn chưa được nghiên cứu để phổ biến trồng rộng rãi. Để bảo tồn tài nguyên cây trồng, tính cho đến 1994, các cơ quan nghiên cứu Tài nguyên cây trồng Nông nghiệp đã thu thập và bảo quản 19.910 mẫu giống, thuộc 57 loài cây trồng nông nghiệp bao gồm cây lương thực, thực phẩm , cây ăn quả, cây công nghiệp, cây thức ăn gia súc và cây cải tạo đất (Nguyễn Đăng Khôi, 1995). 
Theo số liệu điều tra của Viện Dược liệu, đến năm 1985 nước ta có 1.863 loài cây dùng làm thuốc chữa bệnh thuộc 244 họ thực vật. Theo số liệu thống kê đến năm 2000 thì Việt Nam có tới 3.800 cây thuốc thuộc khoảng 270 họ thực vật (Lã Đình Mỡi, 2001). Các loài cây thuốc phân bổ khắp trên các vùng sinh thái ở Việt Nam. Trong số đó, phần lớn các cây thuốc là mọc tự nhiên và khoảng 20% đã được gieo trồng. ở các vùng núi cao, đã thống kê được khoảng 500-700 loài, vùng trung du 400-500 loài, vùng đồng bằng khoảng 400 loài. Trong tổng số các loài cây thuốc đã điều tra, bao gồm các loài thuần tuý là cây thuốc nhưng cũng có nhiều loại cây được kiêm dụng như cây lâm nghiệp, cây cảnh và cây nông nghiệp. Có khoảng 200 loài cây thuốc được dùng phổ biến ở hầu khắp các địa phương, tự túc trong các gia đình, là thành phần của các bài thuốc y học dân tộc, một số loài đưa vào công nghiệp dược và một số loài có giá trị xuất khẩu.
Cây thuốc phần lớn là mọc tự nhiên, phân bố rải rác khắp nơi, phân tán, một số loài có phân bố tập trung, cũng như cây lâm nghiệp, khó thuần hoá nếu tách khỏi khu sinh trưởng tự nhiên. Từ năm 1988, công tác bảo tồn nguồn gen cây thuốc đã được triển khai. Tuy vậy, trong số 848 loài cây thuốc được xác định cần bảo tồn mới chỉ có 120 loài, dưới loài được bảo tồn trong các vùng và các cơ sở nghiên cứu. Viện Dược liệu, Trường Đại học Dược, Viện Quân Y và một số cơ sở thuộc ngành dược đã tổ chức bảo quản các loài trong các vườn mẫu. Viện Dược liệu có trạm cây thuốc Sa Pa, sưu tập được 63 loài đang bảo quản các cây thuốc ở độ cao 1.500 m, Trạm cây thuốc Tam Đảo bảo quản 175 loài, ở độ cao 900m, Trạm cây thuốc Văn Điển (Hà Nội) - 294 loài, Vườn trường Đại học Dược Hà Nội - 134 loài, vườn Học Viện Quân Y - 95 loài. ở các tỉnh phía Nam, có trung tâm giống cây thuộc Đà Lạt sưu tầm 88 loài và bảo quản ở độ cao 1500 m, Trung tâm sâm Việt Nam bảo quản 6 loài. Ngoài ra, còn thu hạt một số cây thuốc để bảo quản ngắn hạn và trung hạn trong nhiệt độ thấp. Nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cây thuốc ngày càng được quan tâm. Năm 1997, Bộ Y tế đã đầu tư 8 tỷ đồng cho chương trình Bảo tồn nguồn gen cây thuốc trong kế hoạch 5 năm.
Các loài cây rừng nước ta rất phong phú không chỉ ở mức độ loài mà còn cả mức dưới loài. Theo những dẫn liệu đã công bố, có khoảng 13.000 loài thực vật trong đó khoảng 1.900 loài là có ích, bao gồm cả cây nông nghiệp và cây thuốc. Tổng số khoảng 100 loài cây lâm nghiệp đã được trồng phổ biến và khoảng 800-100 loài có họ hàng gần xa với cây trồng đã được nhận biết.
Hiện nay, có một số vườn sưu tập thực vật, đó là vườn Trảng Bom (Đồng Nai) gồm 118 loài, vườn Cầu Hai (Phú Thọ) - 110 loài và vườn Cẩm Quỳ (Hà Tây) - 61 loài, vườn Eaklac (Daklac) trồng hơn 100 loài cây. Ngoài ra, phải kể đến vườn Bách Thảo ở Hà Nội đã được hình thành từ hơn 100 năm nay với gần 200 loài cây. Các loài được sưu tập trong các vườn trên đây phần lớn là các loài cây bản địa. Các vườn lưu giữ trên có giá trị như những vườn thực vật.
Ngành Lâm nghiệp có 90 loài cây, bao gồm cây bản địa và nhập nội, có xuất xứ khác nhau đang được nhân giống, khảo sát và đánh giá tiềm năng để sử dụng làm cây rừng và làm giàu rừng. Để phát triển hệ thống vườn thực vật trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đang chuẩn bị dự án xây dựng hệ thống 11 Vườn thực vật trong cả nước trích từ vốn trồng rừng thuộc chương trình trồng 5 triệu ha rừng.
Vườn Động vật
Hai cơ sở nuôi nhốt động vật lớn nhất ở Việt Nam như vườn thú TP. Hồ Chí Minh (Thảo cầm viên) đã được xây dựng từ khá lâu, trên 100 năm. Vườn Thú Hà Nội (vườn Thủ Lệ) mới được thành lập, chỉ gần 30 năm nay. Đây là những nơi đang lưu giữ và nhân nuôi các loài động vật nói chung. Trong đó, có nhiều loài động vật quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam và của một số các Quốc gia khác. Ngoài chức năng lưu giữ nguồn gen động vật hoang dã, các vườn thú còn có ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân lòng yêu thiên nhiên cũng như ý thức bảo vệ động vật.
Do kinh phí hạn hẹp nên công tác lưu giữ nguồn gen gia cầm, gia súc bản địa chủ yếu dựa vào dân. Đến nay, 26 giống vật nuôi và gia cầm địa phương đã được xem xét, trong đó 22 giống từng bước đã tiến hành công tác bảo tồn. Một số đối tượng đã bị mất, hiện nay đang trên đường tìm kiếm lại như Lợn cỏ Nghệ-Tĩnh... Hiện nay đang khôi phục đàn lợn Mẹo Nghệ An, Lợn Sóc Tây Nguyên, Gà Hồ Hà Bắc, Cừu Phan Rang
Một số đối tượng hoang dã khác cũng đã được nuôi trong các trang trại quy mô vừa và nhỏ mà hầu hết là của gia đình. Đã từ lâu, loài hươu sao Cervus nippon không còn sống hoang ở Việt Nam. Ước tính có trên 10.000 con đang được nuôi trong các trang trại hộ gia đình ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá..., để khai thác nhung. Một số loài rắn, ba ba, trăn, khỉ, cá sấu, nai, gấu.... cũng đã được nhiều cơ sở nuôi nhốt. Tuy nhiên, hầu hết các thành công trong gây nuôi như thế này đều có mục đích thương mại hơn là bảo tồn nguồn gen. 
Trạm cứu hộ Động vật
Trung tâm cứu hộ có chức năng thu nhận tất cả các loài động vật hoang dã bị tịch thu từ những người săn bắt, buôn bán trái phép để chăm soc, điều trị, phục hồi sức khoẻ trong điều kiện nuôi nhốt hoặc nuôi bán tự nhiên sau đó lại thả chúng trở lại môi trường tự nhiên vốn là những nơi sinh cư của chúng. Ngoài ra, các trạm cứu hộ cũng xem như là các cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái động vật, xây dựng các quy trình nuôi nhốt hoặc bán tự nhiên các loài động vật hoang dã.
Hiện nay ở ta có các trung tâm cứu hộ động vật như Trung tâm cứu hộ khỉ hầu ở vườn Quốc gia Cúc Phương có diện tích 3,5 ha hiện đang nuôi 12 loài khỉ quí hiếm. Trong đó, có loài voọc quần đùi trắng, voọc Hà Tĩnh, voọc vá chân nâu, voọc vá chân đên, vượn má hung... Trung tâm Cúc Phương là tổ chức cứu hộ tương đối quy mô, có chuyên gia Đức giúp đỡ về kỹ thuật và trang thiết bị, đội ngũ cán bộ chuyên môn có tay nghề tốt. 
Trung tâm cứu hộ động vật Sóc Sơn (Hà Nội) được thành lập từ 1996 nhưng mới thực sự bắt đầu hoạt động từ năm 1998. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các trung tâm cứu hộ đã có những thành tích đáng kể và đã tích luỹ được một số kinh nghiệm. Sau đó, hai trung tâm cứu hộ khác: một ở Đà Nẵng, một ở TP. Hồ Chí Minh cũng đã được thành lập từ 1999. 
Ngân hàng giống
Việc lưu trữ nguồn giống cây trồng, vật nuôi mới được thực hiện ở một số cơ sở nghiên cứu. Các đối tượng được lưu giữ là các hạt giống cây trồng chủ yếu là cây lương thực với phương pháp bảo quản trong kho lạnh. Hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam hiện có 4 cơ quan có kho bảo quản lạnh: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Trường Đại học Cần Thơ, và Viện Cây lương thực và Thực phẩm. Các kho lạnh đều quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu bảo quản ngắn hạn và trung hạn. Chưa có kho đạt tiêu chuẩn bảo quản dài hạn. 
Việc lưu giữ nguyên liệu di truyền: giao tử đực (tinh trùng) và cái (trứng), các tế bào soma, tế bào máu, ADN...đòi hỏi thiết bị hiện đại và kỹ thuật cao. ở Việt Nam, mới tiếp cận phương pháp này.
Bảo quản nguồn gen thực vật
Đến nay, đang bảo quản tại kho lạnh 6.500 giống của 34 loài cây có hạt, bảo quản in vitro 76 giống các loài cây sinh sản vô tính (khoai tây, khoai lang, dứa, dâu tây...) (Đào Hạp, 1999). Bảo quản tại đồng ruộng 1.500 giống của 36 loài. Từ năm 1994 bảo quản 36 giống cây ăn quả tại địa phương.
Các cơ sở nghiên cứu trong nước đang bảo quản trên đồng ruộng các tập đoàn gần 3.000 mẫu giống của trên 50 loài cây. Trong đó, có các dòng, giống lúa dại có gen chống chịu sâu bệnh, các dòng lúa tẻ thuộc hai loài phụ indica và japonica có các tính trạng chống chịu mặn và úng, các giống lúa nếp địa phương với các tính trạng chống chịu sâu bệnh và có mùi thơm.
Các cây công nghiệp: Viện Nghiên cứu cây cao su hiện đang lưu giữ 3.340 kiểu gen (genotype), 200 tiêu bản hạt của cây cao su. Đang xây dựng tập đoàn 300 kiểu gen, tư liệu hoá 2.000 kiểu gen cây cao su. 
Từ năm 1992 đến nay, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn) đã sưu tâp, lưu giữ và bảo quản một quỹ gen vi sinh vật nông nghiệp bao gồm gần 500 chủng loại của hơn 30 họ vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn, nấm men. Ngoài ra, việc lưu giữ một số các chủng vi sinh vật, nấm và tảo đơn bào cũng được thực hiện ở một số các cơ sở nghiên cứu và đào tạo như ở Trung tâm Vi sinh vật ứng dụng Đại học KHTN Hà Nội, Viện Công nghệ Sinh học (Tung tâm KHTN&CNQG), Trung tâm Di truyền Nông nghiệp (Bộ NN&PTNT), Viện Hải sản Hải Phòng (Bộ Thuỷ sản). 
Bảo quản nguồn gen động vật
Đã tiếp cận phương pháp bảo tồn nguyên liệu di truyền như bảo tồn đông lạnh tinh đông viên, tinh gọng rạ, tế bào và phôi trong nitơ lỏng. Việc bảo tồn nguyên liệu di truyền dưới dạng tinh đông viên mới được thực hiện với bò: Năm 1996 đã bảo quản 5.000 liều, 50 phôi bò tươi (Đào Hạp, 1999). Các nghiên cứu của Bùi Xuân Nguyên và nnk, 2000 (Viện Công nghệ Sinh học và một số cơ sở nghiên cứu khác) đã thành công trong đông lạnh bảo quản các tế bào, phôi với thời gian không hạn chế một số đối tượng như bò, thỏ 
Từ 1988 đến nay các cơ sở nghiên cứu thuỷ sản đã lưu giữ trong các ao nuôi 36 dòng thuộc 25 loài cá kinh tế nước ngọt với tổng số 4.406 cá thể (Nguyễn Dương Dũng, Phạm Văn Khánh và nnk.,1999). Trong đó, 15 loài được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I (Từ Sơn-Bắc Ninh), 10 loài được lưu giữ tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II (VNCNTTS II TP. Hồ Chí Minh). Trong số các loài cá đang được lưu giữ, có một số loài nhập nội. Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây đã gia hoá thành công 2 loài cá có nguy cơ bị tuyệt chủng là : cá trắm đen (Mylopharyngodon piceus) và cá bỗng (Spinibarbus delticulatus). Hai loài này đã cho sinh sản nhân tạo và tái tạo quần đàn nuôi trong điều kiện nuôi ở ao nước tĩnh.

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!