02/06/2014

Sự phân bố của Đa dạng sinh học trên thế giới

diem-nong-da-dang-sinh-hoc
Các điểm nóng về đa dạng sinh học trên thế giới: 25 điểm màu xanh lá cây được xác định trước năm 2000, 9 điểm màu xanh nước biển mới được thêm gần đây. Hình theo Wikipedia *(Xem ghi chú)

Sự sống có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi trên trái đất, ngay cả ở những nơi có những điều kiện rất khắc nghiệt như ở vùng cực hay những vùng khô hạn. Tuy nhiên, vùng nhiệt đới là nơi có độ ĐDSH cao nhất. Chúng chỉ chiếm 6% diện tích bề mặt trái đất nhưng chứa hơn 50% số loài thực vật toàn cầu. Nếu trên 1 m2 đất rừng ôn đới có thể trú ngụ 200.000 ve bét thì trên cùng diện tích bền mặt ở vùng nhiệt đới có thể trú ngụ 32 triệu tuyến trùng và 1 g đất có thể chứa đến 90 triệu vi khuẩn và các vi sinh vật khác. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong chương trình thu mẫu tăng cường ở vùng biển Đại tây dương, đã ước tính số loài sống trong lớp trầm tích sâu của đại dương có thể lên đến hơn 10 triệu, có thể so sánh với những gì chúng ta tìm được trong các khu rừng nhiệt đới.

Môi trường giàu có nhất về số loài là những khu rừng mưa nhiệt đới; những dải san hô, những khu đầm, hồ ở vùng nhiệt đới và những khu vực sâu nhất của biển (Pianka, 1966; Goombrige, 1992). Sự giàu có về loài cũng được tìm thấy trong các nơi cư trú trên cạn khác của vùng nhiệt đới như những khu rừng rụng lá, savan cây bụi, đồng cỏ và sa mạc (Mares, 1992) và các rừng cây bụi thuộc vùng ôn đới. Trong các rừng mưa nhiệt đới, sự ĐDSH là sự giàu có của các loài côn trùng. Tại các rạn san hô, sự đa dạng trải rộng ra ở nhiều ngành và lớp khác nhau. Sự đa dạng tại các khu vực sâu của biển có thể là do thời gian, diện tích rộng lớn và độ ổn định của môi trường cũng như là do những tính chất đặc biệt của các loại trầm tích nơi đó (Etter and Grassle, 1992). Sự phong phú của những loài cá và các loài khác trong những hồ rộng ở vùng nhiệt đới là do sự phân ly thích nghi trong một chuỗi những khu cư trú tách biệt và giàu chất dinh dưỡng. 

Bảng 1.5. Số loài động vật có vú của một số nước nhiệt đới và ôn đới
Những nước nhiệt đới
Số loài
Số loài trên 10.000 km2
Những nước ôn đới
Số loài
Số loài trên 10.000 km2
Angola
275
76
Achentina
255
57
Brazin
394
66
úc
299
41
Côlômbia
358
102
Canada
163
26
Costa Rica
203
131
Ai cập
105
31
Kenya
308
105
Pháp
113
39
Mêxicô
439
108
Nhật Bản
186
71
Nigeria
274
82
Marốc
108
39
Peru
359
99
Nam Phi
279
79
Vênzuela
305
92
Anh
77
33
Zaia
409
96
Hoa Kỳ
367
60
Nguồn: Reid và Miller, 1989

Các HST nông nghiệp thường không phong phú về thành phần loài, do đó có tính ổn định thấp. Tuy vậy, không phải là các HST nông nghiệp lúc nào cũng không ổn định. Sự ổn định của HST nông nghiệp có thể giữ được bằng tác động của con người thông qua các phương thức canh tác, sự phong phú trong loài và đa dạng hóa cây trồng. 

Sự phong phú (diversity) trong loài là thành phần các giống cây trồng cùng một loài được trồng trong một HST hay nói theo di truyền học là sự phong phú về kiểu di truyền (genotypes) hay về gen.

Trong nông nghiệp cổ truyền, lúc nông dân còn dùng các giống địa phương, sự phong phú về di truyền của các HST nông nghiệp được đảm bảo vì mỗi vùng sản xuất có rất nhiều giống địa phương. Bản thân mỗi giống địa phương là một giống đa gen, một quần thể lại không thuần nhất về di truyền, có nhiều kiểu di truyền khác nhau nhưng kiểu hình lại tương đối giống nhau. Khi các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, công tác chọn giống được phát triển, các giống năng suất cao dần dần thay thế các giống địa phương. Các giống này thuần nhất về mặt di truyền và thường được trồng với diện tích rất rộng, có lúc là độc nhất trong các HST nông nghiệp (hệ thống độc canh). Sự đồng nhất về mặt di truyền của các giống mới cho năng suất cao được xem như là mối rủi ro đáng lo ngại. Trong quá khứ đã có những nạn dịch lớn về bệnh cây trồng do sự đơn điệu về thành phần di truyền của giống trong HST nông nghiệp.

*Ghi chú: 
25 điểm cũ:
1. The Tropical Andes; 2. Mesoamerica; 3. The Caribbean Islands; 4. The Atlantic Forest; 5. Tumbes-Chocó-Magdalena; 6. The Cerrado; 7. Chilean Winter Rainfall-Valdivian Forests; 8. The California Floristic Province; 9. Madagascar and the Indian Ocean Islands; 10. The Coastal Forests of Eastern Africa; 11. The Guinean Forests of West Africa; 12. The Cape Floristic Region; 13. The Succulent Karoo; 14. The Mediterranean Basin; 15. The Caucasus; 16. Sundaland; 17. Wallacea; 18. The Philippines; 19. Indo-Burma; 20. The Mountains of Southwest China; 21. Western Ghats and Sri Lanka; 22. Southwest Australia; 23. New Caledonia; 24. New Zealand; 25. Polynesia and Micronesia

9 điểm mới thêm:
26. The Madrean Pine-Oak Woodlands; 27. Maputaland-Pondoland-Albany; 28. The Eastern Afromontane; 29. The Horn of Africa; 30. The Irano-Anatolian; 31. The Mountains of Central Asia; 32. Eastern Himalaya; 33. Japan; 34. East Melanesian Islands


Xem thêm: 

2 nhận xét:

  1. có thể nêu ý nghĩa của các màu trong hình được không?

    ReplyDelete
    Replies
    1. OK, mình đã thêm vào rồi đấy, cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!

      Delete

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!