14/06/2014

Phương pháp điều tra giám sát đa dạng sinh học

(biodivn.blogspot.com)
a. Nguyên tắc chọn loài và sinh cảnh điều tra giám sát ĐDSH 
Việc xây dựng rừng đặc dụng trên thế giới ở Việt Nam nhằm mục tiêu chính là bảo vệ tài nguyên và môi trường. Tuy nhiên, ngoài mục tiêu tổng quát, phần lớn các VQG và KBTTN không chỉ có một số loài, mà có hàng trăm (thậm chí hàng nghìn) loài động thực vật khác nhau và hoạt động điều tra giám sát ĐDSH không thể thực hiện đối với hàng trăm, hàng nghìn loài sống trong các sinh cảnh, kiểu rừng khác nhau. Vì vậy, chọn loài và sinh cảnh để thực hiện chương trình điều tra và giám sát ĐDSH là việc cần phải làm trước. Không thể đưa ra cụ thể các loài hay các sinh cảnh hoặc HST cần điều gia giám sát của tất cả hệ thông rừng đặc dụng Việt Nam vì tính đặc thù của các khu rừng đặc dụng rất khác nhau. Đối với một số VQG hay KBTTN, có thể loài và sinh cảnh được chọn để điều tra giám sát cũng chính là những mục đích mà luận chứng kinh tế kỹ thuật (LCKTKT) hoặc dự án đào tạo xây dựng (DAĐTXD) VQG hoặc KBTTN đó nhằm đạt tới. 
Các VQG và KBTTN được xây dựng ngoài mục tiêu chung là bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, mục đích chủ yếu của nó là để bảo vệ các HST cần thiết cho rất nhiều loài thực và động vật tiêu biểu của Việt Nam thì nội dung cơ bản của hoạt đồng điều tra giám sát sẽ là: 
- Xác định sinh cảnh chính đã tạo nên toàn bộ HST rừng ở đó; 
- Xác định các loài chỉ thị (hoặc loài đặc trưng) đại diện cho mỗi dạng sinh cảnh; 
- Theo dõi sự biến động của loài chỉ thị đó và những nguyên nhân chính (mối đe doạ) đã gây nên sự biến động; 
- Tìm ra các giải pháp để giảm thiểu mối đe doạ nói trên. 
Các VQG và KBTTN được xây dựng, ngoài mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên và môi trường, mục tiêu cụ thể của việc xây dựng nhằm bảo vệ một loài động vật và thực vật quan trọng đang bị đe doạ tuyệt chủng thì nhiệm vụ và nội dung điều tra giám sát ĐDSH sẽ là: 
- Xác định phân bố, hiện trạng quần thể loài đó; 
- Xác định mối quan hệ giữa quần thể loài đó với sinh cảnh sống và những yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của quần thể loài đó; 
- Giám sát các xu hướng biến đổi kích thước quần thể loài đó; 
- Tìm các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các mối đe doạ đó. 
Như vậy vấn đề mà các VQG và KBTTN cần quan tâm là xác định các dạng sinh cảnh và các loài chính để đưa vào chương trình giám sát. Các bước cơ bản được tiến hành như sau: 
- Xây dựng bản đồ sinh cảnh chính. Cac dạng sinh cảnh hay kiểu rừng chính được xác định dựa trên các cơ sở: 
+ Các thông tin có trong bản LCKTKT hoặc DAĐTXD VQG hay KBTTN; 
+ Đã được khoanh vẽ trên bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng của VQG hoặc KBTTN. 
- Chuyển tải các thông tin được ghi trong LCKTKT hoặc DAĐTXD VQG hay KBTTN hoặc từ các đợt kiểm tra gần nhất vào bản đồ phân loại sinh cảnh (cả các thông tin về phân bố động thực vật của VQG hoặc KBTTN trước và hiện nay). Thông tin chuyển tải vào bản đồ phải dựa trên chương trình điều tra giám sát ĐDSH vạch ra. 
- Chọn loài giám sát được lựa chọn trên các nguyên tắc: 
+ Dễ quan sát hoặc bẫy bắt (động vật kiếm ăn ngày, loài thực vật chỉ thị hoặc được người dân chú ý khai thác); 
+ Không phải là loài hiếm và cũng không phải là loài quá phong phú, nếu sự phong phú của loài đó là nhờ có mặt của con người. Loài hiếm nên có chương trình điều tra giám sát riêng; 
+ Chọn các loài ăn chuyên hoặc một số loài thức ăn đặc biệt hay nhóm loài có chung các nhu cầu sinh thái (thức ăn, nơi ở). 
b. Thiết kế chương trình điều tra giám sát ĐDSH 
Một nguyên tắc quan trọng đối với việc thực hiện một chương trình điều tra và giám sát ĐDSH là phải tuyệt đối tuân thủ khi lặp lại. Điều này có ý nghĩa rằng việc tiến hành chương trình điều tra giám sát ĐDSH trong các lần tiếp theo phải đúng qui trình (thời gian, nhân lực, phương pháp) như đã thực hiện ở lần đầu. Chỉ khi tuân thủ các nguyên tắc đó thì các số liệu của các đợt điều tra giám sát mới hữu ích và có thể so sánh với nhau trên mọi phương diện 
Để thiết lập một kế hoạch điều tra giám sát ĐDSH cần: 
- Hiểu biết chi tiết về các loài và các sinh cảnh trong khu trên các phương diện: phân bố, yếu tố đe doạ, mức độ đe doạ và diễn biến tình trạng loài qua các năm; 
- Xác lập nội dung, phương pháp thực hiện; quyết định loài, sinh cảnh hoặc mối đe doạ nào cần được chú ý; 
- Xác định nguồn lực thực hiện ( con người, thời gian và tài chính). 
Yêu cầu quan trọng nhất để thực hiện tốt một chương trình điều tra giám sát ĐDSH là lập tuyến điều tra giám sát. Tuyến điều tra giám sát được lập cần thoả mãn một số điều kiện sau: 
- Đi qua được nhiều sinh cảnh đại diện đã lựa chọn; 
- Các tuyến không cắt nhau và khoảng cách giữa chúng là tốt nhất ( >100m); 
- Khả năng ghi nhận loài giám sát là cao nhất; 
- Dễ nhận biết nhất ( được đánh dấu, dấu không bị mất do mưa gió). 
Kỹ thuật giám sát trên tuyến là yêu cầu quan trọng thứ 2, cụ thể: 
- Nhóm cán bộ điều tra giám sát được cần tổ chức ổn định ( không hoặc rất hạn chế thay đổi nhân sự) và có được những kiến thức và kỹ năng cơ bản sau: 
+ Nhận biết loài nhanh và chính xác, đặc biệt là các loài được lựa chọn để giảm sát tại địa bàn; 
+ Có những hiểu biết cơ bản về đặc điểm sinh học, sinh thái loài giám sát; 
+ Có kỹ năng khảo sát và ghi chép thông tin. 
Để có thể chia sẻ thông tin và so sánh số liệu khi cần thiết, việc thống nhất mẫu biểu ghi chép các kết quả điều tra giám sát ĐDSH trên tuyến là cực kỳ quan trọng 
c. Thời gian lặp lại của chương trình điều tra giám sát ĐDSH 
Thời gian lặp lại của chương trình điều tra giám sát ĐDSH hay là giãn cách giữa 2 lần giám sát phụ thuộc các điều kiện cơ bản sau: 
- Nguồn nhân lực; 
- ái lực của các yếu tố đe doạ ( bởi con người); 
- Đặc điểm sinh học của nhóm loài giám sát trong quan hệ với khí hậu khu vực; 
- Nguồn tài chính hỗ trợ. 
Thường các chương trình điều tra giám sát ĐDSH được thiết kế theo chu kỳ lặp lại 3, 6 hoặc 12 tháng. Những VQG và KBTTN có đủ nhân lực và sự tác động của con người luôn xảy ra thì nên xây dựng chương trình điều tra giám sát ĐDSH có thời gian lặp lại là 3 tháng theo 4 mùa của năm. Chương trình điều tra giám sát ĐDSH lặp lại sau 3 tháng giúp các nhà quản lý cập nhật thông tin và triển khai và triển khai các giải pháp bảo tồn ĐDSH kịp thời nhất. Đối với VQG và KBTTN chưa đủ nguồn lực, sức ép của con người không lớn hoặc thời tiết chia 2 mùa, có thể xây dựng chương trình điều tra giám sát có thời gian lặp lại là 6 tháng. Tuy nhiên, thời gian giám sát lặp lại càng lâu thì tính cập nhật thông tin thấp và việc xác định chính xác các nguyên nhân hay yếu tố gây biến động ĐDSH thiếu chính xác và khó tìm được giải pháp bảo tồn thích hợp 
d. Sự tham gia của người dân trong điều tra giám sát ĐDSH 
Sự tham gia của người dân được coi là yếu tố quan trọng đối với sự thành công của hoạt động bảo tồn ĐDSH. Bài học kinh nghiệm cho thấy ở VQG và KBTTN nào, sự tham gia của người dân là tự nguyện và tích cực thì công tác bảo tồn ĐDSH ở nơi đó sẽ có kế quả. Ngược lại, nơi chưa có sự hợp tác quản lý của người dân với ban quản lý VQG và KBTTN thì sức ép của con người lên tài nguyên luôn là vấn đề đặt ra. Kết quả phỏng vấn người dân địa phương ở 7 VQG và người dân vào công tác quảnl ý rừng ặc dụng là chưa có hoặc có thì chỉ là một sôits bảo tồn viên thôn bản. 
Sự tham gia của người dân trong điều tra giám sát ĐDSH không giống như hoạt động bảo tồn mà chủ yếu là phát huy những kinh nghiệm săn bắt trước đây và kinh nghiêm đi rừng của họ. Những kinh nghiệm đó giúp chương trình điều tra giám sát ĐDSH thuận lợi và có thể cho kết quả tốt. Mặt khác, các hoạt động điều tra giám sát ĐDSH cũng góp phần giúp họ nâng cao nhận thức về bảo tồn ĐDSH. (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: