02/06/2014

Đa dạng sinh học phục vụ đời sống tinh thần và văn hoá

gia-tri-da-dang-sinh-hoc-3
Vườn thú San Diego - Hoa Kỳ phục vụ khách du lịch tham quan
Khía cạnh văn hoá
Thế giới tự nhiên có ảnh hưởng đến triết học, ngôn ngữ, nghệ thuật, tôn giáo và rất nhiều các khía cạnh khác của xã hội của các cộng đồng. Trong nền văn hoá châu Phi, các loài động vật hoang dã được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại và các tác phẩm hội họa và điêu khắc. Sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nguồn tài nguyên hoang dã đã tạo nên mối quan hệ gần gũi giữa các yếu tố sinh thái chi phối các loài động thực vật hoang dã và các tổ chức xã hội trong một số bộ tộc người. Ví dụ, sự thay đổi theo mùa của các kỹ thuật săn bắn (vào mùa mưa hoạt động săn bắn mang tính cá nhân, còn vao mùa khô xu hướng săn bắn là dùng các lưới bắt và đi thành từng nhóm đông người) của bộ tộc người Babinga ở nước Cộng hoà Trung Phi tác động đến các địa điểm cắm trại, thành phần của các nhóm người và quan hệ xã hội. Trong rất nhiều nền văn minh, giá trị xã hội của người đàn ông được thể hiện thông qua lòng dũng cảm của anh ta trong hoạt động săn bắn. 
Giải trí, du lịch và thẩm mỹ
Rất nhiều loài động vật hoang dã được thuần dưỡng với mục đích bầu bạn với con người, như sử dụng làm vật nuôi, do nhu cầu giải trí, của cá nhân hay cho cộng đồng như việc trưng bày trong các vườn thú. Tại Nam Hoa Kỳ, khảo sát tại 4 làng Kayapo đã cho kết quả là có ít nhất 31 loài động vật hoang dã được thuần dưỡng thành các loài động vật nuôi, trong đó có 4 loài rùa, 16 loài vẹt và vẹt đuôi dài, một loài thằn lằn và 1 loài nhện (Redford và Robinson, 1991).. Nuôi dưỡng thú vật đã trở thành thói quen rất phổ biến của con người. Do vậy, hoạt động thương mại xuất khẩu các loài động vật hoang dã làm thú nuôi từ các nước nhiệt đới đến các nước phát triển rất phát đạt và thu được nguồn lợi lớn. Ví dụ doanh thu chỉ của việc buôn bán vẹt, bao gồm cả các loài hoang dã và các loài đánh bắt được ước tính khoảng 300 triệu đôla mỗi năm (Hemley, 1988). Tổng giá trị của việc xuất khẩu vẹt ở các nước Trung và Nam Hoa Kỳ từ năm 1982 đến 1986 ước tính khoảng 1.6 tỷ đô la Hoa Kỳ. Vẹt là loài động vật có giá trị hơn các loài chim nhỏ khác mặc dù chúng chỉ được buôn bán với số lượng rất nhỏ nhưng chúng lại đóng góp phần lợi nhuận rất lớn trong hoạt động buôn bán này. 
Rất nhiều thú vui của con người được tạo nên thông qua các loài động vật hoang dã như tổ chức các cuộc tham quan, dã ngoại để quan sát đời sống hàng ngày của chúng, xem TV và các cuốn băng về động vật hoang dã hay chỉ đơn giản là biết rằng chúng vẫn đang tiếp tục tồn tại. Hình thức sử dụng không tiêu thụ này rất khó để xem xét, đánh giá nhưng đây có thể là giá trị kinh tế lớn nhất mà các loài động vật hoang dã đem lại. Một trong những cách dễ dàng hơn nhằm đánh giá giá trị của hoạt động này là định lượng số tiền mà các khách du lịch sẵn sàng chi trả cho hoạt động vui chơi giải trí của họ với các loài động vật hoang dã. Người ta ước tính rằng các khách du lịch trả 200 đôla Hoa Kỳ/người cho một giờ chiêm ngưỡng loài Gorilla gorilla beringei ở Guanda. Những du khách này đã đóng góp gần 1 triệu đôla Hoa Kỳ hàng năm do doanh thu trực tiếp của vườn thú. Tại Kenya, người ta ước tính rằng voi châu Phi đóng góp khoảng 25 triệu đôla Hoa Kỳ mỗi năm cho nền công nghiệp du lịch. Thưởng ngoạn các loài động vật và các sinh cảnh hoang dã là một trong những lĩnh vực được phát triển và mở rộng nhanh nhất trong ngành công nghiệp du lịch. 
Du lịch sinh thái là một phần quan trọng của ngành công nghiệp du lịch và có tầm quan trọng đối với cộng đồng địa phương, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Lindberg (1991) đã tính rằng ngành du lịch của Kenia có doanh thu khoảng 400 triệu đôla, khoản thu lớn nhất trong hoạt động trao đổi ngoại thương.

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!