07/06/2014

Nguy cơ dễ bị tuyệt chủng của các loài

hai-henry-paphiopedilum-henryanum
Các loài lan hài có nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên cao do chúng là đối tượng thu hái của con người và yêu cầu môi trường sống ở rừng nguyên sinh. Trong ảnh loài Lan hài henry paphiopedilum henryanum được chụp ở Tuyên Quang, 2011.
(biodivn.blogspot.com) Khi môi trường bị suy thoái quần thể của các loài sẽ bị giảm sút về số lượng, và cuối cùng một số loài sẽ bị tuyệt chủng. Các nhà sinh thái học đã nghiên cứu kiểm chứng và thấy rằng không phải tất cả các loài đều có nguy cơ dễ bị tuyệt chủng giống nhau ngược lại một số nhóm loài đặc biệt dễ bị tuyệt chủng (Gittleman 1994). Các loài này rất cần được theo dõi cẩn thận và phải được quản lý với những nỗ lực nhằm bảo tồn chúng. Các loài đặc biệt dễ bị tuyệt chủng thường nằm trong những nhóm loài sau đây: 
Các loài có vùng phân bố địa lý hẹp. Một số loài chỉ tồn tại trong một hay vài địa điểm nhỏ hẹp của một khu vực địa lý, nếu như toàn bộ vùng phân bố nhỏ hẹp của chúng bị hủy hoại thì loài sẽ bị tuyệt chủng. Các loài chim sống trên các đảo giữa đại dương là những ví dụ điển hình về các loài có vùng phân bố nhỏ hẹp bị tuyệt chủng; nhiều loài cá chỉ xuất hiện trong một hồ hay một thủy vực nhất định cũng dễ bị tuyệt chủng. 
Các loài chỉ tồn tại với một hay vài quần thể. Bất cứ quần thể nào của loài cũng đều có thể bị tuyệt chủng cục bộ dưới tác động của các yếu tố môi trường như động đất, cháy, sự bùng nổ dịch bệnh, cũng như các hoạt động của con người. Do vậy các loài có nhiều quần thể ít bị tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu hơn các loài chỉ có một hay vài quần thể. 
Các loài có kích thước quần thể nhỏ. Quần thể nhỏ cũng rất dễ bị tuyệt chủng cục bộ hơn so với các loài có quần thể lớn do chúng dễ bị ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, dễ bị sai lệch tính biến dị di truyền. Các loài với đặc điểm có quần thể nhỏ như các loài thú lớn săn mồi và đặc hữu thường dễ bị tuyệt chủng hơn so với các loài có quần thể lớn (Mace, 1994) và không phải là loài đặc hữu. 
Các loài có quần thể đang bị suy giảm về số lượng. Quần thể có xu hướng liên tục phát triển, vậy nên khi quần thể của loài có những dấu hiệu suy giảm về số lượng điều đó có nghĩa là loài sẽ bị tuyệt chủng nếu như nguyên nhân của sự suy giảm không được xác định và ngăn chặn kịp thời. 
Các loài có mật độ quần thể thấp. Các loài có mật độ quần thể thấp là các loài chỉ có vài cá thể trên một đơn vị diện tích. Khi nơi cư trú hay vùng phân bố của chúng bị chia cắt, xé lẻ, thì trong mỗi phần bị chia cắt như vậy sẽ chỉ còn lại một quần thể rất nhỏ, nhỏ đến mức không cho phép chúng tồn tại bền vững, do đó dần dần chúng sẽ chết. 
Các loài cần một vùng cư trú rộng lớn. Một số loài trong đó mỗi cá thể động vật hay một bầy đàn cần một khu vực rộng lớn để săn mồi có xu hướng sẽ chết hết khi một phần nơi cư trú hay phạm vi sống của chúng bị các hoạt động của con người chia cắt, hủy hoại. 
Các loài có kích thước cơ thể lớn. Các loài động vật lớn thường đòi hỏi một diện tích hoạt động rộng cho mỗi cá thể, chúng cần nhiều thức ăn hơn, và chúng cũng dễ bị con người săn bắn nên dễ tuyệt chủng hơn các loài động vật nhỏ. Trong các loài, lớn nhất là những động vật ăn thịt lớn thường dễ bị tuyệt chủng nhất. Ví dụ, các loài thú săn mồi lớn nhất (như báo và đại bàng) và các loài thú ăn cỏ lớn nhất (như voi, hươu) thường phải đối đầu nhiều nhất với hiểm họa tuyệt chủng. 
Các loài không có khả năng di chuyển tốt. Trong thế giới tự nhiên, những sự thay đổi trong môi trường thúc đẩy các loài thích ứng, cả về tập tính và cả về đặc tính sinh lý để có thể tồn tại trong môi trường biến đổi. Các loài không thích ứng được với sự thay đổi môi trường phải di cư đến một nơi thích hợp hơn, còn nếu không thì phải đối đầu với nạn tuyệt chủng. Những sự thay đổi môi trường đột ngột thường gây khó khăn cho quá trình thích ứng, khiến cho việc di cư trở thành cách lựa chọn duy nhất. Các loài không có khả năng di chuyển thường phải chịu số phận tuyệt chủng một khi môi trường sống nguyên bản bị ô nhiễm, bị các loài du nhập xâm chiếm hay do điều kiện khí hậu biến đổi. 
Các loài di cư theo mùa. Cuộc sống của các loài di cư theo mùa thường phụ thuộc vào hai loại hình nơi cư trú khác hẳn nhau. Nếu như một trong hai nơi cư trú bị phá hủy thì loài sẽ không có khả năng sinh tồn. Hàng triệu những con chim hàng năm di cư từ phương bắc xuống phía nam để tránh rét. Nếu như con đường di chuyển giữa hai nơi cư trú bị ngăn cách bằng rào chắn, đường sá, hay đập nước thì các loài sẽ không có khả năng hoàn thành trọn vẹn chu kỳ sống của chúng. Các loài cá hồi, cá chình bị các đập nước ngăn lại không bơi lên thượng nguồn để sinh đẻ được là một ví dụ điển hình của tình trạng này. 
Các loài với ít tính biến dị di truyền. Tính biến dị di truyền trong một quần thể đôi khi cho phép loài thích ứng được với môi trường sống thay đổi. Các loài có ít hoặc không có tính biến dị di truyền sẽ dễ bị tuyệt chủng hơn mỗi khi có các dịch bệnh mới, các kẻ thù săn đuổi mới, hay có một vài sự thay đổi về môi trường sống. 
Các loài với nơi sống đặc trưng. Một khi nơi cư trú của loài bị biến đổi rất có thể nơi cư trú này không bao giờ còn phù hợp với một số loài cần nơi sống đặc thù. Ví dụ các loài thực vật sống ở vùng ĐNN đòi hỏi một mức nước nhất định và thay đổi thường xuyên, chúng thường dễ bị chết nếu chế độ thủy văn bị biến đổi. Các loài với những đòi hỏi cao về dinh dưỡng cũng thường dễ bị đe dọa. Ví dụ điển hình là loài bọ ăn lông sống ký sinh đơn thực chỉ ăn lông của một loài chim nhất định. Nếu như loài chim vật chủ bị tuyệt chủng thì loài bọ ăn lông sống ký sinh ở loài chim ấy cũng tuyệt chủng theo. 
Các loài đặc trưng, loài chỉ thị tìm thấy ở một môi trường ổn định. Rất nhiều loài thích nghi với môi trường sống có ít sự biến đổi như các khu vực nằm sâu trong các rừng mưa nhiệt đới. Khi những cánh rừng ấy bị đốn chặt, bị đốt cháy, thì nhiều loài bản địa sẽ bị tuyệt chủng vì không có khả năng thích ứng với các điều kiện tiểu khí hậu bị thay đổi (nhiều ánh sáng hơn, độ ẩm cao hơn, biện độ giao động nhiệt độ lớn hơn). Sống trong một môi trường ổn định cũng làm cho các loài chậm trễ thành thục sinh sản và số lượng con non đẻ ra trong một lứa cũng ít hơn. Những loài này thường không có khả năng hồi phục quần thể với tốc độ nhanh đủ để tránh khỏi thảm họa tuyệt chủng sau khi bị các ảnh hưởng khác nhau của sự biến đổi môi trường sống và nơi cư trú. 
Các loài sống bầy đàn vĩnh cửu hoặc tạm thời. Các loài sống thành bầy đàn trong một khu vực nhất định thường rất dễ bị tuyệt chủng. Ví dụ các loài dơi hoạt động tìm kiếm mồi rất tích cực vào ban đêm, nhưng ban ngày chúng thường tụ tập trong một số hang nào đấy. Các thợ săn khi đi vào hang ban ngày có thể bắt hầu hết đàn dơi một cách dễ dàng. Những đàn bò rừng, chim bồ câu hay những đàn cá là những ví dụ về các bầy đàn động vật bị con người săn bắt đến kiệt quệ. Một số loài sống theo bầy đàn không thể nào tiếp tục tồn tại khi số lượng quần thể của chúng giảm đến ngưỡng số lượng, vì với số lượng ít này chúng không còn đủ khả năng săn mồi, giao phối và tự bảo vệ. 
Các loài là đối tượng săn bắn và hái lượm của con người. Sự khai thác quá mức có thể làm suy giảm nhanh chóng số lượng các loài có giá trị kinh tế cao đối với con người. Nếu như sự săn bắn và hái lượm không được điều tiết kiểm soát một cách có kế hoạch bằng pháp luật hay bằng tục lệ của người dân địa phương thì các loài sẽ đi đến sự tuyệt chủng. 
Các đặc điểm trên đây của các loài có xu hướng bị tuyệt chủng không phải là những đặc điểm riêng biệt, chúng thường có xu hướng tạo thành từng nhóm đặc điểm. Ví dụ, các loài với kích thước cơ thể lớn thường có mật độ quần thể thấp và diện tích địa bàn sống rộng lớn - nghĩa là có tất cả các đặc điểm của một loài có xu hướng dễ bị tuyệt chủng.(biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!