03/06/2014

Mối quan hệ giữa dân số, tài nguyên và sự phát triển

tieu-thu-nang-luong-the-gioi
Mức tiêu thụ năng lượng trên thế giới
(Tiếp theo Đa dạng Sinh học và Bảo tồn - biodivn.blogspot.com)
Sự tác động của con người đối với Trái đất tùy thuộc vào số lượng người với mức độ sử dụng hoặc bỏ phí đi nguồn tài nguyên và năng lượng. Giới hạn chịu đựng của Trái đất hay của một HST gọi là mức chịu đựng tối đa. Con người có thể mở rộng khả năng đó bằng kỹ thuật để thỏa mãn các yêu cầu của mình, nhưng thường phải trả giá bằng sự suy thoái tính ĐDSH hoặc các chức năng sinh thái. Tuy nhiên, khả năng năng mở rộng không thể là vô tận được. Giới hạn của nó là khả năng có thể tự phục hồi được của HST hoặc khả năng hấp thu được các chất thải một cách an toàn.
Sự bền vững sẽ không thể có được, trừ phi dân số và mức yêu cầu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ được trong phạm vi chịu đựng của Trái đất. 
Hiện tại trên thế giới có sự khác biệt rất lớn giữa các nước, thậm chí giữa các cộng đồng trong một nước về qui mô dân số, tốc độ tăng dân số, nhu cầu của con người, kiểu tiêu thụ tài nguyên và nguồn tài nguyên sẵn có. Một số ít người ở những nước có thu nhập cao tiêu thụ thừa thãi năng lượng, nước, thực phẩm và các nguồn tài nguyên khác. Một số đông sống ở những nước có thu nhập thấp sử dụng một phần rất ít nguồn tài nguyên của Trái đất. Tốc độ tăng dân số lại cao hơn ở những nước này. Hiện trạng trên rõ ràng là bất ổn định. Sự chênh lệch quá lớn trong việc tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ tăng dân số quá cao đã đến lúc phải giải quyết. 
Tất cả đã dẫn đến một xã hội hiện tại có tính không bền vững. Chứng cớ của sự không bền vững trong mức tiêu thụ và gia tăng dân số là hoàn toàn không khó nhận thấy. Với tốc độ tăng dân số như hiện nay thì 300 năm nữa dân số thế giới sẽ là 1500 tỷ người. Không một tốc độ tăng dân số nào được coi là bền vững. Mặc dù tốc độ tăng dân số hiện nay ở các nước phát triển chỉ là 0,4%/năm (UNFPA, 2002) nhưng vì một người dân ở khu vực này có mức tiêu dùng gấp nhiều lần một người dân ở các nước đang hoặc kém phát triển nên tuy tốc độ tăng dân số chậm nhưng lại có tác động lớn hơn nhiều đến môi trường toàn cầu. Ví dụ mức tiêu dùng năng lượng tính theo đầu người ở Hoa Kỳ là gấp đôi mức tiêu dùng ở Nhật và gấp hơn 26 lần ở châu Phi. Hay những cư dân hiện nay ở các quốc gia giàu có cần từ 4 tới 6 hecta đất tính theo đầu người để phục vụ hay hỗ trợ mức tiêu dùng của họ. Nếu cả thế giới đều có mức tiêu dùng tương tự thì sẽ cần một diện tích đất gấp đôi, gấp ba diện tích đất hiện có trên trái đất (Gayl D. Ness, 1997). 
Hình 2.3. cho thấy diễn thế của dân số thế giới trong khoảng 1000 năm qua, trong đó cho thấy sự gia tăng từ từ qua rất nhiều thế kỷ rồi bùng nổ dân số chỉ trong vòng nửa thế kỷ gần đây. Sự gia tăng này có liên quan chặt chẽ đến sự gia tăng các áp lực lên môi trường, trong đó có sự biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, đất và nước, suy thoái các HST và thất thoát ĐDSH.
Tuy nhiên, Hình 2.3 dễ làm cho ta nhầm lẫn vì nó gợi ý rằng gia tăng dân số khiến cho môi trường toàn cầu bị suy thoái. Hình 2.6 cung cấp thêm nguồn thông tin quan trọng để chúng ta hiểu rõ hơn những động thái hiện tại của dân số và môi trường. 
the-gioi-tieu-thu-nang-luong
 Hình 2.6. Dân số thế giới, năng lượng và sự đô thị hóa, giai đoạn 1000-2025
Việc chuyển sang sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong hai thế kỷ qua đã đem lại cho loài người một công nghệ và kiểu xã hội mới - xã hội công nghiệp và đô thị hóa. Nhiên liệu hóa thạch đã làm tăng năng suất lao động và tăng khả năng của con người, từ đó thúc đẩy gia tăng dân số, đô thị hóa và biến đổi môi trường. Song bản thân nhiên liệu hóa thạch không chỉ là nguyên nhân mà nó cũng là sản phẩm của sự biến động dân số và những thay đổi và xã hội trước đó. Như vậy, bài học rút ra từ thực tiễn trên là: gia tăng dân số, phát triển kinh tế, suy thoái môi trường và thất thoát ĐDSH tạo nên một mạng phức tạp. Mỗi yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của yếu tố khác. Do đó không thể giải quyết hiệu quả từng khía cạnh một cách riêng rẽ. 
Bản thân mối quan hệ giữa dân số và môi trường cũng rất đa dạng và nhiều chiều. Mối quan hệ này chịu tác động của một số hình thức công nghệ và tổ chức xã hội.
Có hai mẫu hình cơ bản thể hiện mối quan hệ giữa dân số và môi trường trong khoảng 2 - 3 thế kỷ qua. Những biến đổi trước đây có nhịp độ khá đều và bị giới hạn bởi các yếu tố địa lý. Những biến đổi gần đây của thời đại công nghiệp thì nhanh hơn và có nhiều tác động hơn trên phạm vi toàn cầu. Vấn đề nan giải hiện nay là việc giải quyết tốc độ biến đổi và sự toàn cầu hóa của tác động.
Mẫu hình thứ nhất - những biến đổi từ từ trong quá khứ và sự ra đời của cộng đồng chung thế giới 
Cho tới năm 1950, việc mở rộng sản xuất lương thực thực phẩm chủ yếu dựa vào mở mang đất canh tác. Điều này thường kéo theo những biến đổi về môi trường như xây dựng hệ thống tưới tiêu hay chặt phá rừng. Tuy vậy sản lượng trên một hecta đã được duy trì tương đối ổn định. Kết quả là lương thực thực phẩm được cung cấp ổn định, chất lượng cuộc sống được nâng cao, phương tiện giao thông được cải thiện và phát triển. Đặc biệt, sự phát triển của giao thông đường biển đã gắn kết các quốc gia lại gần nhau hơn để tạo nên một HST với con người là thống soái. Các giống cây trồng, vật nuôi mới được ra đời ở châu Hoa Kỳ đã được mang sang các châu lục Á, Phi, Âu nhằm làm tăng khả năng sử dụng đất đai tại những vùng đất này. Ngược lại, những căn bệnh mới đã du nhập từ châu Âu sang châu Hoa Kỳ cùng với chế độ nô lệ đã làm xáo trộn đáng kể dân số của các cộng đồng dân bản xứ vùng Trung và Nam Hoa Kỳ. Mặc dù những biến động trên vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực song dấu hiệu của sự ra đời một cộng đồng mới đã hình thành.
Sự mở rộng của các hoạt động công nghiệp vào cuối thế kỷ 18 đã gây nên những biến động đáng kể trong mối quan hệ dân số - môi trường. Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên và nhu cầu về lương thực đã làm biến đổi môi trường một cách sâu rộng. Rừng bị chặt phá để lấy gỗ và đất canh tác, các mỏ khoáng sản bị khai thác tối đa và để lại những vùng đất hoang. Tới cuối thế kỷ 19, cùng với sự ra đời của động cơ đốt trong và việc sử dụng nhiên liệu dầu khí, những xu hướng biến động môi trường nêu trên càng trở nên mạnh mẽ trong xã hội công nghiệp. Một hình thái mới của cộng đồng thế giới đã dần dần bộc lộ trên nền của xã hội đô thị - công nghiệp. Một xã hội theo định hướng thị trường dần dần áp đảo và đẩy các cộng đồng địa phương vào một cộng đồng chung của thế giới.
Mẫu hình thứ hai – tăng tốc các biến đổi trong một cộng đồng chung trên toàn cầu 
Sau thời kỳ 1945 - 1950, tất cả mọi thay đổi trong quá khứ đều được tăng tốc. Các dạng năng lượng mới, công nghệ mới, các động thái chính trị mới và sự ra đời của các tổ chức quốc tế (phi chính phủ, liên chính phủ, tập đoàn kinh tế) đã khiến cho mối quan hệ dân số - môi trường trở nên không bền vững, đặt ra một thách thức lớn trên toàn cầu. 
Xã hội hiện đại của chúng ta đã tạo ra một tổ hợp của sự gia tăng nhanh dân số với mức tiêu thụ tài nguyên cao mà cả hai yếu tố này đều phân bố không đồng đều trên thế giới. Sự bất bình đẳng của gia tăng dân số và tiêu thụ tài nguyên đã khiến cho tình hình thế giới hiện nay là bất ổn và không bền vững. 
Nhận thức được thách thức trên, các hình thức tổ chức chính trị, xã hội mới đã ra đời và phát triển nhanh chóng trong vòng 50 năm qua nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo phúc lợi xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường và gần đây nhất là khuyến khích phát triển bền vững. Sự thành công trong việc thúc đẩy phát triển bền vững chỉ có được khi các quốc gia và cộng đồng quốc tế cùng có những chiến lược tổng thể trong đó giải quyết đồng thời một loạt các vấn đề về phát triển kinh tế, gia tăng dân số, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. (biodivn.blogspot.com)

Xem:

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!