01/06/2014

Hệ sinh thái vĩ mô thuỷ sinh

he-sinh-thai-vi-mo-thuy-sinh
Hệ sinh thái vĩ mô thuỷ sinh (Aquatic ecosystem)
Hệ sinh thái vĩ mô thuỷ sinh bao gồm các Hệ sinh thái Đất Ngập Nước (theo định nghĩa RAMSAR) và HST biển đại dương. Trên bề mặt trái đất, HST vĩ mô thuỷ sinh chiếm đến 73% tổng diện tích (71% là đại dương, còn 2% là nước ngọt), chiếm trên 97% tổng khối lượng nước. Sự khác biệt giữa nước ngọt và nước biển là độ muối NaCl của nước. Nước ngọt có độ muối thấp hơn 0,50/00 , còn nước biển chính thức có độ muối 30 (32) - 400/00 ; giữa nước ngọt và biển là nước lợ. Nước có độ muối trên 400/00 là nước qua mặn, đặc trưng cho những hồ ven biển ở nơi khí hậu khô hạn và ở “Biển chết”.

1. Hệ sông suối và các vực nước chảy khác
Hệ sông suối cùng các lưu vực hành thành nên những vùng ngập nước quan trọng và những Châu thổ mầu mỡ. Hơn nữa, khi sông đổ vào các vùng biển có thuỷ triều còn tạo nên các hệ cửa sông (Estuaries) giầu tiềm năng vào bậc nhất. Những hệ thống sông lớn phải kể đến là sông Mississipi ở Bắc Hoa Kỳ, Amazon ở Nam Hoa Kỳ, sông Nil và Côngô (Châu Phi), sông Vônga (Châu Âu), sông Hằng, Hoàng Hà, Dương Tử, Mê Kông (Châu Á). Ở Việt Nam có hệ thống sông ngòi vô cùng phong phú với các sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Cầu, sông Cửu Long.
Đặc trưng chính của các hệ này là nước luôn vận động; điều kiện sống trong sông biến động theo mùa nước cạn và nước lũ. Sinh vật sống trong sông, suối và các loài thích nghi với điều kiện nước chảy, giàu oxy, tuy nhiên, có sự khác biệt rất đáng kể giữa các quần xã phân bổ ở những phần khác nhau của dòng: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu. Nói chung, sinh giới trong sông suối nghèo. ĐDSH và sản lượng các loài tăng theo hướng từ thượng nguồn xuống hạ lưu, từ giữa dòng vào bờ.
he-sinh-thai-song-suoi
Hệ sinh thái khu vực nước chảy
2. Hệ hồ, đầm, ao, hồ chứa nước và các vực nước tĩnh khác
Những thuỷ vực nước tĩnh dạng ao, hồ, đầm, hang nước ngầm, và các vực nước tĩnh khác là các HST ĐNN nội địa với thuộc tính đặc trưng là rất đa dạng có nguồn gốc cả nhân tạo và thiên tạo. Nguồn gốc, sự phân bố cùng những đặc điểm hình thái… quyết định đến điều kiện môi trường, kéo theo chúng là sự phân bố, đặc tính của quần xã sinh vật và năng suất sinh học của thuỷ vực. Trên thế giới có 20 hồ lớn với độ sâu trên 400m. Nhiều hồ lớn, như hồ Baical (Siberi, Nga) chưa tới 20% lượng nước ngọt của hành tinh. Những hồ nước ngọt nổi tiếng là hệ thống hồ (GreatLakes) ở Bắc Hoa Kỳ; Tanganyka, Victoria (Châu Phi); hệ thống hồ nước mặn ở Nam Âu - Trung Á: Caspien, Aral. Hồ Baical rất cổ, ra đời cách chúng ta trên 1 triệu năm, lại rất sâu (trung bình trên 700m) là nơi lưu trữ nhiều dạng đặc hữu của động, thực vật ở mức độ cao (giống và họ) nên được mệnh danh là bảo tàng sống của thế giới sinh vật cổ.
Ở các hồ sâu khối nước bị phân tầng bởi nhiệt, trong khi đó hình thành 3 vùng khác nhau về nhiệt độ: tầng trên (epilimnion) ấm, nước được xáo trộn tốt, tầng giữa (metalimnion), gragien nhiệt thay đổi nhanh theo độ sâu, trở thành lớp ngăn cách giữa nước tầng và mặt nước đáy, tầng cuối cùng là hypolimnion, nhiệt độ nước thấp và ổn định.
Theo chiều ngang, hồ được chia thành vùng gần bờ và xa bờ, đặc trưng bởi sự phân bố của các loài thực vật sống bám vào đáy.
Dựa vào sức sản xuất người ta cũng chia thành hồ thành các gạng giầu dưỡng (eutrophic), nghèo dưỡng (oligotrophic) mất dinh dưỡng (distrophic) và loại phì dưỡng (eutro – phication) do hoạt động của con người, làm tăng quá mắc lượng muối dinh dưỡng, nhất là N, P đưa đến sự nở hoa của nước.
he-sinh-thai-nuoc-tinh
Hệ sinh thái khu vực nước tĩnh
3. Các hệ cửa sông ven biển (Estuary)
Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp – biển, trong đó có sự xáo trộn của nước ngọt với nước biển do hoạt động của thuỷ triều. Do vậy, độ muối của nước nằm ở vị trí trung gian giữa nước ngọt và nước mặn, 0,5 ¸30 (320/00), dao động theo chu kỳ mùa của khí hậu và hoạt động của thuỷ triều.
Vùng cửa sông được hình thành do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là sự sụt lún của một bộ phận lục địa ven bờ hay do sự nâng tương đối của mực nước biển. Những vùng sụt lún không được đền bù tạo nên các cửa sông hình phễu, còn những sông lắm phù sa thường tạo nên các cửa sông kiểu châu thổ; 
Xét theo quá trình động lực của khối nước thì các đầm phá cũng là đặc biệt của hệ cửa sông (Vũ Trung Tạng, 1982, 1984).
Các vùng cửa sông trên thế giới ra đời cách chúng ta khoảng dưới 3000 năm, sau biển tiến lần cuối cùng của kỷ thứ Tư.
Đặc trưng chung của hệ cửa sông là:
- Điều kiện môi trường, nhất là đọ muối, luôn luôn biến động do hoạt động của dòng sông vì hoạt động của thuỷ triều.
- Phân bố vào vùng cửa sông là những loài sinh vật biến thẩm thấu, chủ yếu có nguồn gốc biển. Sinh vật cửa sông chính thức có số lượng loài không nhiều nhưng số lượng cá thể của quần thể đông, tạo nên sản lượng lớn, thêm vào đó là vùng giam nguồn muối dinh dưỡng nên có năng suất sinh học tương đương như năng suất sinh học của rạn san hô và rừng mưa nhiệt đới.
- Con đường vận động của vật chất và năng lượng chính trong các hệ cửa sông là mắt xích thức ăn khởi đầu bằng phế liệu (detrit). Do đó, sản phẩm khai thác chính trong vùng, đặc biệt ở các vùng cửa sông nhiệt đới là tôm, thân mềm, cá đáy các loại.
- Vùng cửa sông đồng thời là hệ hỗ trợ, duy trì tiềm năng cho vùng biển xa bờ. Hiện tại, vùng bị sức ép từ nhiều phía: khai thác tài nguyên quá mức ngay trong vùng, bị ảnh hưởng lớn do việc đắp đập, xây dựng hồ chứa và nhà máy thuỷ điện ở trung, thượng lưu; bị ô nhiễm bởi các chất thải từ lục địa mang ra, bởi đầu tư khai thác và vận chuyển dầu và các phương tiện giao thông thuỷ ở vùng cửa sông và thềm lục địa.
he-sinh-thai-ven-bien
Hệ sinh thái khu vực ven biển
4. Biển và đại dương
Biển và đại dương là những HST khổng lồ, chúng có quan hệ với nhau bởi hệ thống dòng, ít bị chia cắt như lục địa. Đặc trưng chính của đại dương là chứa nước mặn (S0/00 > 300/00), có hệ thống dòng phức tạp ở trên bề mặt và dưới sâu, hệ thống dòng đối lưu (phân kỳ và hội tụ), hoạt động của gió, bão của thuỷ triều … Tất cả chúng tạo nên những biến đổi phức tạp về các điều kiện vật lý hải dương, khí tượng… trên mỗi vùng biển. Hơn nữa, những biến đổi này còn tác động mạnh lên lục địa và khí quyển. Sự tương tác lục địa – biển – khí quyền điều hoà cân bằng nhiệt – ẩm, kéo theo là mọi điều kiện khác nữa của môi trường, tạo thuận loại cho toàn sinh quyền tồn tại và phát triển bền vững.
Khu hệ sinh vật biển vô cùng phong phú và có ý nghĩa kinh tế quan trọng.
Hiện nay người ta đã xác định, trong số 63 lớp động vật thì 52 lớp có mặt ở đại dương, trong số 31 lớp chỉ có ở biển mà không có trong lục địa; trong 33 lớp thực vật thì ở biển và đại dương gặp 10 lớp, trong đó 5 lớp chỉ sống ở nước mặn. Trong các đại dương đến nay đã biết trên 200.000 loài, gồm các sinh vật sống trôi nổi (Plankton), sinh vật sống đáy (Phyto - và Zoobenthos), động vật tự bơi (Nekton) như cá, mực, thú biển … và sinh vật sống trên màng nước (Pleiton và Neiston). Chúng quan hệ với nhau bằng nhiều mối quan hệ trong nội bộ và với môi trường để tạo nên HST khổng lồ – HST biển.
he-sinh-thai-bien-dai-duong
Hệ sinh thái biển và đại dương
Vùng biển rộng lớn của Việt Nam với diện tích hơn 1 triệu km2 nằm liền kề với trung tâm phát sinh và phát tán của hệ động vật ấn Độ – Tây Thái Bình Dương nên biển có mức đa dạng cao; thực vật nổi hiện biết 573 loài, tảo lớn 650 loài, động vật nổi trên 470 loài, động vật đáy 6.400 loài, chủ yếu là thân mềm và giáp xác. Cá gần 2000 loài, rùa biển 5 loài, rắn biển trên 10 loài, và thú biển trên 10 loài, trong đó loài bò nước (Dugong dugong) là dạng đặc hữu cho tổng vùng nước nhiệt đới Ấn Độ – Tây Thái Bình Dương. Nguồn lợi hải sản tập trung trong các HST đặc trưng cửa sông (estuary), rừng ngập mặn (mangroves), các rạng san hô (coral reefs), các bãi cỏ biển (seagras), rong tảo…
Xem: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!