02/06/2014

Giá trị sử dụng trực tiếp của đa dạng sinh học

gia-tri-da-dang-sinh-hoc-2
Đa dạng sịnh học cung cấp thức ăn cho con người
Đa dạng sinh học (ĐDSH) trực tiếp phục vụ đời sống của con người góp phần xoá đói, giảm nghèo… Đây là các giá trị kinh tế trực tiếp được con người trực tiếp thu lượm và sử dụng. Những giá trị này thường được tính toán thông qua việc điều tra, khảo sát những hoạt động của một số nhóm người đại diện tại các điểm khai thác và đối chiếu so sánh với những số liệu được thống kê về xuất nhập khẩu. Những giá trị trực tiếp có thể được tiếp tục chia thành giá trị sử dụng cho tiêu thụ, đối với những sản phẩm hàng hoá được sử dụng ở địa phương và giá trị sử dụng cho sản xuất, cho các sản phẩm bán ra thị trường.

Giá trị sử dụng cho tiêu thụ

Giá trị sử dụng cho tiêu thụ được đánh giá bao gồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và những loại sản phẩm khác được sử dụng cho gia đình và không xuất hiện ở thị trường trong nước và quốc tế. Những người dân sống gần những nguồn tài nguyên thiên nhiên thường có xu hướng khai thác sử dụng chúng phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày của họ. Nếu người dân không có điều kiện để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này bởi nhiều nguyên nhân như do môi trường bị xuống cấp, do nguồn tài nguyên bị khai thác quá mức hoặc do sự quản lý nghiêm ngặt của các khu bảo tồn các nguồn tài nguyên nhiên nhiên thì chất lượng cuộc sống của họ bị xuống cấp, đến mức họ không thể sống được và buộc phải di chuyển đến nơi khác để khai thác. 
Các nguồn tài nguyên ĐDSH có thể được sử dụng trong rất nhiều mặt của cuộc sống như củi đun, rau cỏ, hoa quả, thịt cá, dược phẩm, nguyên vật liệu,.... 80% dân số thế giới vẫn dựa vào những dược phẩm mang tính truyền thống lấy từ các loài động thực vật để sử dụng cho những sơ cứu ban đầu khi họ bị nhiễm bệnh.
Hiện nay, đã có 119 chất hoá học tinh chế từ 90 loài thực vật có mạch bậc cao được sử dụng trong dược học hiện đại trên toàn thế giới và ngày càng phát hiện thêm nhiều cây con có khả năng cứu loài người khỏi các bệnh tật hiểm nghèo. Nền y học dân tộc dựa chính vào việc sử dụng các cây cỏ, là cơ sở của việc bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho 80% dân các nước đang phát triển. Mặc dù cây cỏ hoang dã đã được sử dụng rộng rãi trong việc chữa bệnh trên khắp thế giới nhưng mới chỉ có 2 % của 270.000 loài thực vật có mạch bậc cao được nghiên cứu một cách đầy đủ, trong đó có nhiều loài có triển vọng. Ước tính việc buôn bán các loại thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ thiên nhiên và từ vi sinh vật trên toàn thế giới thu lợi khoảng 40 tỷ đôla Hoa Kỳ/năm. 
Một trong những nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống là nguồn protein, có thể lấy được thông qua việc săn bắt các loài động vật.. Trên toàn thế giới, 100 triệu tấn cá, chủ yếu là các loài hoang dã bị đánh bắt mỗi năm. Phần lớn số cá này được sử dụng ngay tại địa phương.
Mặc dù hầu hết các nguồn thực ăn của con người hầu hết được đáp ứng bởi các nguồn từ động vật nuôi, thực vật và cá, tuy nhiên, các loài động thực vật hoang dã cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng của con người. 80% nguồn protein trong thức ăn hàng ngày của những người dân bản địa và những người mới đến định cư ở Huallaga Central Region tại Peru có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã. Ở phía Bắc của Alaska năm 1974, chỉ những người dân Anaktuvuk Pass tiêu thụ trung bình 755 kg thịt từ các loài động vật hoang dã, chiếm khoảng 88% nhu cầu dinh dưỡng trong bữa ăn của họ. Ở Nicaragoa, động vật hoang dã cung cấp tới 98% lượng thịt và cá tiêu thụ của người Miskito Indians. Nghiên cứu về hoạt động săn bắn và tiêu thụ thịt động vật tại Sarawak ước tính tổng lượng thịt khoảng 18.000 tấn. Thậm chí cả ở các nước công nghiệp hoá như Hoa Kỳ, môn thể thao săn bắn các loài động vật móng guốc cỡ lớn ước tính khoảng 150.000 tấn thịt mỗi năm. Rất nhiều các loài động vật hoang dã được sử dụng làm thức ăn, cung cấp rất nhiều các dưỡng chất cần thiết như protein, chất béo và dầu. Nguồn protein động vật rồi rào nhất là từ các động vật cỡ trung bình cho đến cỡ lớn. Những người đi săn cũng thường săn bắn các loài thú hơn là chim và bò sát. 
Điều rất phổ biến ở các nước đang phát triển là cuộc sống bị phụ thuộc vào nhiều vào nguồn tài nguyên. Ngay cả ở một số vùng ở Bắc Hoa Kỳ, hàng trăm ngàn người cũng có cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên như củi để đun nấu, sưởi ấm hay thịt cho bữa ăn hàng ngày. 
Nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi

ĐDSH cung cấp nguồn gen để nâng cao chất lượng vật nuôi cây trồng. Một trong những giá trị của ĐDSH được thể hiện rõ ràng là ĐDDT trong nông nghiệp. Năng suất đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật (hóa chất nông nghiệp và máy móc) và yếu tố di truyền. 
Nhiều loại sinh vật hoang dại họ hàng gần gũi với cây trồng, vật nuôi có những đặc tính quý giá như:
- Sức chống chịu đối với sâu bệnh cao;
- Chống chịu đối với sự thay đổi kỹ thuật trồng trọt (ví dụ như phản ứng đối với thuốc trừ sâu);
- Có các loại gen có năng suất cao hơn (ví dụ kích thước của hạt thóc lớn hơn…);
- Có các đặc tính về chất lượng (ví dụ như sự thay đổi về lượng protein hay dầu).
Các loài cây con mà chúng ta đang nuôi trồng luôn cần được bổ sung những tính trạng di truyền mới lấy từ các cây, con hoang dã là những bà con gần gũi sống trong thiên nhiên bằng cách lai giống. Trong điều kiện thiên nhiên, các loài hoang dã đã tiếp tục được biến hoá, thay đổi để thích nghi với những điều kiện sống mới như thay đổi khí hậu và có khả năng chống chịu với những loại bệnh mới. Các loài đó là nguồn cung cấp các gen mới để cải tạo các cây, con nuôi trồng của chúng ta. Tiềm năng của ĐDSH được đánh giá một cách rõ ràng qua ví dụ sau: Vào năm 1970, một sinh viên người Mêhicô khám phá được một giống ngô hoang dã ở miền trung Jalisco, có tên khoa học là Zea diplopirennis. Giống ngô mới này kháng được nhiều bệnh của ngô và là giống ngô duy nhất trong số các loại ngô được trồng có khả năng sinh trưởng lâu năm. Gen của giống ngô này được ghép vào giống ngô thuần chủng, có khả năng tăng sản lượng ngô trồng trên thế giới đạt giá trị hàng tỷ đôla. Loài ngô này đã được phát hiện kịp thời trước khi bị phá đi làm nương rẫy trong khi chỉ còn sót lại khoảng 10 ha. Chúng ta có thể thấy rất nhiều ví dụ cho thấy rằng đã và sẽ có các loài sinh vật bị mất đi trước lúc chúng ta biết được giá trị của chúng.

Xem thêm:

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!