02/06/2014

Đánh giá đa dạng hệ sinh thái

da-dang-he-sinh-thai
Đa dạng hệ sinh thái = Tất cả các hệ sinh thái của điểm đó
Đa dạng hệ sinh thái là một trong 3 dạng của đa dạng sinh học (ĐDSH) và ít được nhắc đến khi nghiên cứu về ĐDSH vì nó khó và hơn thế cách tiếp cận để điều tra nghiên cứu nó chưa được các nhà khoa học sinh thái quan tâm. Tài liệu này đề cập đến 4 nội dung của đa dạng hệ sinh thái (HST).
Đặc trưng của đa dạng HST
- Có quan hệ chặt chẽ với đa dạng loài, lý do là mỗi kiểu HST đều có đa dạng loài riêng: ở cạn khác ở nước, ở nhiệt đới khác ở ôn đới, ở rừng khác ở đồng cỏ, ở sông khác ở hồ…;
- Nói đến đa dạng HST là nói đến cả sự đa dạng về các yếu tố môi trường;
- Đa dạng HST liên quan đến quần xã sinh vật trong khi đó đa dạng loài liên quan đến quần thể sinh vật và đa dạng di truyền liên quan đến các cá thể;
- Bảo tồn đa dạng HST với đối tượng chính là cả một HST còn bảo tồn đa dạng loài chỉ với đối tượng là loài hay quần thể;
- Đa dạng HST dẫn đến đa dạng cảnh quan, các sinh cảnh, các tổ sinh thái, các nơi ở của sinh vật… vì các đơn vị này đều có liên quan đến HST
- Đa dạng HST là đối tượng nghiên cứu của các nhà sinh thái học trong lúc đó đa dạng loài là đối tượng nghiên cứu của các nhà động vật học, thực vật học, vi sinh vật học, và đa dạng di truyền là đối tượng nghiên cứu của các nhà di truyền học, sinh học phân tử;
- Nghiên cứu đánh giá và giám sát đa dạng HST, cảnh quan đòi hỏi phải thực hiện trong một thời gian dài vì đây là hệ thống phức tạp, lớn.
- Cách diễn đạt đa dạng HST, cảnh quan thông thường hiện nay là sử dụng các bản đồ, các ảnh, trong lúc đó đa dạng loài là danh lục, đa dạng gen là các sơ đồ phân tích điện di.
Đa dạng HST
HST được định nghĩa là một hệ thống bao gồm các sinh vật cùng chung sống với nhau (= quần xã sinh vật) và môi trường của chúng (=sinh cảnh). HST hồ Tây là hệ thống gồm tất cả các sinh vật sống ở hồ Tây và các điều kiện môi trường nước của hồ Tây.
Đa dạng HST tại một địa điểm, một vùng nào đó là tất cả các HST tại địa điểm, vùng đó. Đó là các kiểu HST ở cạn cũng như ở nước. Nếu chúng có nhiều và rất khác nhau thì là ĐDSH cao hoặc ngược lại.
Việc xác định các HST ở ngoài thiên nhiên khó khăn nhất là khi phải xác định ranh giới giữa 2 hệ sinh thái gần kề nhau hoặc cùng ở cạn hoặc cùng ở nước. Cách tiếp cận để phân biệt là dựa vào thành phần các loài của quần xã, các loài chỉ thị và các yếu tố môi trường. Mỗi HST đều có đa dạng loài riêng. Loại hình thực bì là một tiêu chí quan trọng để phân loại các hệ sinh thái trên cạn.
Mai Đình Yên (1996) phân biệt ở Việt Nam có 7 kiểu HST ở cạn và 16 kiểu HST ở nước. Phan Kế Lộc (1986) phân biệt ở Việt Nam có 26 loại hình thực bì trên cạn.
Để thể hiện các kiểu HST có mặt tại một địa điểm hay một vùng nào đó là xây dựng các bản đồ sinh thái học và với phương pháp thông thường hiện nay là viễn thấm và hệ thống thông tin địa lý. Xây dựng các bản đồ sinh thái rất tốn kém, đòi hỏi các nguồn lực lớn hơn so với lập bảng danh lục các loài.
Do xác định ranh giới các HST trên cạn ở tự nhiên khó khăn nên Whittaker (1970) đề xuất nên phân ra 4 mức đa dạng HST theo kích thước diện tích cần đánh giá. Đa dạng điểm là mức nhỏ nhất tiếp đến là đa dạng alpha, rồi đến đa dạng gamma và cuối cùng là đa dạng epsilon tương đương với vùng địa lý sinh học.
Đa dạng cảnh quan
Cảnh quan được định nghĩa là một không gian ở đó có sự thống nhất về địa hình, địa mạo, thuỷ văn cùng với các yếu tố thực vật, động vật và các tác động của con người. Ví dụ: cảnh quan đồi núi, cảnh quan ven biển , cảnh quan đồng bằng… cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lý. Khái niệm cảnh quan rất gần với khái niệm HST của khoa học sinh thái.
Xác định ranh giới của cảnh quan ở tự nhiên cũng khó khăn như việc xác định ranh giới HST vậy. Kích thước của cảnh quan thường lớn hơn kích thước của HST vì một cảnh quan có thể gồm nhiều hệ sinh thái. Nghiên cứu cảnh quan nhấn mạnh nhiều đến các yếu tố môi trường còn nghiên cứu nhấn mạnh nhiều đến các yếu tố sinh học.
Một địa điểm mà có đa dạng HST cao thì cũng có đa dạng cảnh quan và kéo theo nó là đa dạng loài cũng cao và đa dạng gen cũng cao.
Thể hiện đa dạng cảnh quan dưới dạng các bản đồ cảnh quan. Bản đồ cảnh quan được dùng phổ biến hơn bản đồ sinh thái.
Đa dạng sinh cảnh, tổ sinh thái, nơi ở, phường, hội…
Sinh cảnh là môi trường sống của sinh vật. Tổ sinh thái là các điều kiện cần cho đời sống của sinh vật. Nơi ở là nơi cư trú của sinh vật. Các sinh vật một khi có chung tổ sinh thái, nơi ở thường phân hoá thành các phường, hội,… Đánh giá đa dạng HST cần đánh giá cả đa dạng sinh cảnh, tổ sinh thái, nơi ở, phường hội,…
Nghiên cứu sinh cảnh, tổ sinh thái, nơi ở, phường hội và nghiên cứu về môi trường, nơi sống của các sinh vật vì vậy thường dùng đến các thiết bị phân tích nghiên cứu về môi trường. Khi có ĐDSH cao về sinh cảnh, tổ sinh thái, nơi ở, phường hội chắc chắn tương ứng là đa dạng loài cao.
Rõ ràng là nghiên cứu, đánh giá được đầy đủ về ĐDSH là phải thực hiện được cả 3 mức độ: loài, hệ sinh thái, và gen (di truyền). Chúng sẽ bổ sung cho nhau một khi chúng ta muốn hiểu biết đầy đủ về ĐDSH và quản lý tốt chúng.

Xem thêm:

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!