19/06/2014

Đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái của Việt Nam

(biodivn.blogspot.com)

1. Đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng

Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1999)  đã ghi nhận có 13.766 loài thực vật, trong đó, có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao (bảng 6.2). Theo đánh giá, 10 % số loài thực vật dã phát hiện được cho là đặc hữu.
Ngành
Loài
Chi
Họ
1. Ngành rêu
793
182
60
2. Ngành khuyết lá thông
2
1
1
3. Ngành Thông đất
57
5
3
4. Ngành Tháp bút
2
1
1
5. Ngành Dương xỉ
664
137
25
6. Ngành Hạt trần
63
23
8
7. Ngành Hạt kín
9.812
2.175
299
Tổng cộng:
11.373
2.524
378
Nguồn: Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999.
Khu hệ động vật: Cho đến nay đã thống kê được 307 loài giun tròn (Nematoda), 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất (Oligochaeta), 145 loài ve giáp (Acarina), 5.268 loài côn trùng, 260 loài bò sát (Reptilia), 120 loài ếch nhái (Amphibia), 840 loài chim (Avecs), gần 300 loài và phân loài thú (Mammalia).
Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương-Mã Lai của IUCN, Việt Nam được xem là nơi giầu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nước trong vùng phụ Đông Dương. Trong số 21 loài thú linh trưởng có trong vùng phụ này thì ở Việt Nam có tới 15 loài, trong đó có 7 loài và phân loài đặc hữu. Trong số 49 loài chim đặc hữu của vùng thì Việt nam đã có 33 loài. Theo Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) thì số loài chim đặc hữu của Việt Nam lên tới hàng trăm loài.

2. Đa dạng sinh học trong hệ sinh thái nước ngọt nội địa

Các thuỷ vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập nước, động vật không xương sống và cá.
-           Vi tảo: đã xác định được 1.402 loài tảo thuộc 259 chi và 9 ngành;
-           Cho đến nay đã thống kê và xác định được 794 loài động vật không xương sống. Trong đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác (Crustacea), có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam. Riêng hai nhóm tôm, cua có 59 loài thì có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả. Trong tổng số 147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những loài đặc trưng cho Việt Nam hay vùng Đông Dương. Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độ đặc hữu cao của khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam.
Một điều đáng chú ý là tính chất nhiệt đới của thành phần loài giáp xác và thân mềm nước ngọt ở Việt Nam, được thể hiện ở sự phong phú về số giống hơn là số loài. Trong khi số lượng các giống giáp xác tới 94 giống, thì số loài của mỗi giống thường chỉ 1-3. Số giống chỉ có một loài khá nhiều, số giống có trên 5 loài rất ít, chỉ có 5 giống: Macrobrachium, Caridina, Schmackeria, Allodiaptomus, Palaemon. Trong số 60 giống trai ốc đã biết, chỉ có 3 giống là có 5 loài trở lên (Lamprotula, Lanceolaria, Corbicula).
Theo các dẫn liệu thống kê (Bộ Thuỷ sản,1996; Đặng Ngọc Thanh và nnk., 2002), thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam là 546 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân (2001) đã công bố chuyên khảo về họ cá chép (Cyprinidae) ở Việt Nam với 315 loài và phân loài thuộc 103 giống, 11 phân họ. Hai tác giả này dự định công bố tiếp chuyên khảo tập 2 bao gồm các họ cá nước ngọt Việt Nam còn lại, vì vậy dự kiến thành phần loài cá nước ngọt Việt Nam có thể tới trên 700 loài. Theo các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân (2001), riêng họ cá chép có 79 loài thuộc 32 giống, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam. Trong đó, có 1 giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học. Phần lớn các loài đặc hữu đều có phân bố ở các thủy vực sông, suối, vùng núi.
Những đặc điểm trên đây của thành phần loài cho thấy khu hệ cá các thủy vực nội địa Việt Nam mang tính chất nhiệt đới, tính đa dạng khá cao (hơn 700 loài trên diện tích lãnh thổ không lớn, hơn 330.000 km2), thành phần loài cá có nguồn gốc nước mặn, lợ, phong phú phù hợp với vị trí địa lý gần biển của vùng đất liền, song với thành phần loài đặc hữu không nhiều. So với các vùng lân cận, họ cá chép ở Việt Nam phong phú hơn cả ở taxon loài lẫn taxon giống.

3. Đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái biển và ven bờ

Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt nam thể hiện rõ ở đặc tính nhiệt đới, đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc-nam (Đặng Ngọc Thanh, 1996). Tổng kết các kết quả điều tra nghiên cứu biển ở nước ta cho đến nay đã phát hiện 10.837 loài sinh vật, gồm các nhóm như sau:
-           Thực vật: đến nay đã xác định 537 loài vi tảo, 667 loài rong biển, 15 loài cỏ biển.  Riêng thực vật ngập mặn có 94 loài thuộc 72 chi, 58 họ;
-           Động vật nổi:  468 loài;
-           Động vật đáy: 6.377 loài động vật đáy, trong đó,  có 225 loài tôm biển, 298 loài san hô cứng Scleractinia thuộc 76 giống, 16 họ;
-           Động vật chân đầu: 53 loài;
-           Cá biển: 2.038 loài thuộc 717 giống, 178 họ;
-           Động vật khác: 50 loài rắn biển (16 giống, 1 họ), 4 loài rùa, 16  loài thú biển.

4. Đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Mức độ ĐDSH của hệ thực vật cây trồng ở Việt Nam khá cao. Hệ cây trồng được phát triển dưới các điều kiện tự nhiên và nhân tác. Theo thống kê, có khoảng 734 loài cây trồng phổ biến, thuộc 79 họ (bảng 6.3).
TT
Nhóm cây
Số loài
1
Cây lương thực (cung cấp tinh bột)
39
2
Cây thực phẩm
95
3
Cây ăn quả
104
4
Rau
55
5
Cây gia vị
39
6
Cây giải khát
12
7
Cây lấy sợi
16
8
Cây lấy dầu
44
9
Cây lấy tinh dầu
19
10
Cây cải tạo đất
28
11
Cây làm dược liệu
179
12
Cây cảnh
50
13
Cây bóng mát
5
14
Cây lấy gỗ
49
Nguồn : Nguyễn Văn Trương, 1999
Về động vật nuôi, trên cơ sở có sự đa dạng các HST, sinh cảnh, đa dạng về khí hậu nên Việt nam cũng là khu vực rất đa dạng các động vật nuôi: Bò, Trâu, Ngựa, Dê, Hươu, Thỏ, Lợn, Gà, Vịt, Ngan, Ngỗng, các loài cá nước ngọt. Các loài cá nuôi có nguồn gốc nội địa bao gồm 21 loài trong 23 giống và 11 họ. Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được di nhập và thuần dưỡng khoảng 50 loài. Trong đó, có 35 loài cá cảnh, còn lại là cá nuôi lấy thịt. Sản lượng tôm cá nuôi (nước mặn và nước ngọt) ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong sản lượng thuỷ sản.
Tập hợp các dẫn liệu nghiên cứu, điều tra cơ bản đã có từ trước đến nay, thành phần loài  thực vật, động vật trong sinh giới Việt Nam được thống kê và tóm tắt trong bảng 6.4. Tuy nhiên trong thành phần đã xác định được, một số nhóm sinh vật chưa được điều tra, nghiên cứu một cách đầy đủ hoặc chưa có đủ điều kiện đưa vào, chủ yếu là các nhóm động vật không xương sống và vi sinh vật.
Nhóm sinh vật
Số loài đã xác định được (SV)
Số loài có trên thế giới (SW)
Tỷ lệ % giữa SV/SW
1.Thực vật nổi/vi tảo



  - nước ngọt
1.402


  - biển
537


2. Rong, cỏ



  - nước ngọt
khoảng 20


  - biển
682


3. Thực vật ở cạn
khoảng 11.400
220.000
5
  - Rêu
1.030
22.000
4,6
  - Nấm lớn
826
50.000
1,6
4. Động vật không xương sống ở nước



  - nước ngọt
khoảng 800


  - Biển
khoảng 7.500


5. Động vật không xương sống ở đất
khoảng 1.000


6. Giun sán ký sinh ở gia súc
161


7. Côn trùng
khoảng 5.500


8. Cá

19.000
13
   - nước ngọt
Trên 700


   - biển
2.038


9. Bò sát
    Bò sát biển
260
54
6.300
5
10. Lưỡng cư
120
4.184
2,9
11. Chim
840
9.040
9,3
12. Thú
      Thú biển
gần 300
16
4.000
7,5

Theo các tài liệu thống kê (Tré de Groombridge, 1992), Việt Nam là một trong 25 nước có độ ĐDSH cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật. Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới) (WCMC, 1992) (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005.

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!