19/06/2014

Đa dạng Hệ sinh thái đất ngập nước của Việt Nam

(biodivn.blogspot.com) Theo công ước Ramsar, ĐNN được định nghĩa là: “Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng biển với độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp.”.
Đất ngập nước được chia thành các hệ chính:
-           Biển: các vùng đất ĐNN ven biển, gồm các đầm phá ven biển, các bờ đá và các rạn san hô;
-           Cửa sông: bao gồm vùng châu thổ, các bãi triều lầy, các đầm nước;
-           Ven hồ: các vùng ĐNN có liên quan đến các hồ;
-           Đầm lầy: các đầm, đầm lầy và đầm lầy than bùn.
Ngoài ra, còn có các vùng ĐNN nhân tạo như các ao nuôi tôm, cá, đất nông nghiệp được tưới, các ô ruộng muối, các hồ chứa, kênh nước thải.
Theo Sách hướng dẫn cho việc sử dụng rộng rãi vùng ĐNN (Văn phòng Ramsar, 2000), Đất ngập nước được phân hạng theo ba loại (category): i/ Loại 1 (biển/ven bờ) có 11 kiểu (type) ĐNN; ii/Loại 2 (các thủy vực nội địa): 20 kiểu và iii/ Loại 3: các vùng ĐNN nhân tạo: 10 kiểu. Tuy nhiên, một số tác giả và quốc gia sử dụng các phân hạng khác nhau phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Các kiểu ĐNN được phân biệt dựa trên tính chất nước (mặn, ngọt), mức độ ngập nước, thảm thực vật và cấu tạo đất.
Các vùng ĐNN là nơi có mức ĐDSH rất cao, bên cạnh thành phần thủy sinh vật, ĐNN còn là nơi hỗ trợ cho cuộc sống của nhiều quần thể chim nước, động vật có vú, bò sát, lưỡng cư. Các vùng ĐNN còn là nơi có năng xuất sinh học cao nhất, tạo ra hàng loạt các lợi ích cho con người.
Việt Nam có các loại hình ĐNN rất đa dạng và phong phú về loại hình, chức năng và giá trị. Hiện đã xác định được 39 kiểu ĐNN ở Việt Nam. Việt Nam đã thống kê có 60 vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế, và đã được ghi nhận chính thức là những vùng ĐNN có giá trị về môi trường và ĐDSH (Lê Diên Dực, 2001). Một số các kiểu ĐNN tiêu biểu ở Việt Nam như sau:
a. Biển/Ven bờ
Vùng cửa sông. Cửa sông là HST phức hợp do có sự tương tác giữa sông và biển. Bởi vậy quần xã thuỷ sinh vật ở đây mang tính hỗn hợp giữa các nhóm sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Đây vừa là nơi cư trú vừa là nơi nuôi dưỡng vừa là bãi đẻ trứng của nhiều loài cá biển và nhiều nhóm động vật không xương sống. Một điều đáng lưu ý là trong khu vực cửa sông, rừng ngập mặn rất phát triển là nơi cư trú và nuôi dưỡng cho nhiều loài thuỷ sinh vật.
Vùng triều. Vùng triều cửa sông ven biển là nơi chuyển tiếp giữa sông và biển, bởi vậy nơi đây một mặt phụ thuộc vào chế độ thuỷ văn nước ngọt từ sông lục địa đổ ra, mặt khác phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều ngoài biển vào. Dựa trên thành phần cấu tạo nền đáy, độ mặn, chế độ thuỷ triều cũng như những sinh vật đặc trưng có thể phân loại bãi triều cửa sông phía bắc thành các kiểu :
-           Bãi triều lầy cửa sông, chủ yếu ở các vùng cửa sông có rừng ngập mặn phát triển;
-           Bãi triều rạn đá, hay gặp ở khu vực Quảng Ninh, vùng biển Trung Bộ và ven các đảo lớn;
-           Bãi triều tùng áng, thường gặp ở các đảo trong vịnh Hạ Long, Bái Tử Long;
-           Bãi triều san hô chết, hay gặp ở các đảo ven bờ.
Đầm phá, vũng biển. Đầm phá (lagoon) tự nhiên là loại hình thuỷ vực rất đặc sắc của vùng triều ven biển. Theo định nghĩa, đầm phá là một phần của biển, được tách ra khỏi biển nhờ một dạng tích tụ như đê cát, rạn san hô chắn ở phía ngoài và ăn thông với biển qua một hoặc nhiều cửa (từ điển Bách khoa của Liên xô cũ, 1980).  Dưới góc độ loại hình học, đầm phá có đặc tính của hồ chứa nước ven bờ. Tuy nhiên, giống như vùng cửa sông, do đặc tính pha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thuỷ sinh vật đầm phá rất phong phú bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt. Cũng là loại hình hồ chứa nhưng đầm phá thường nông nên hệ sinh vật đáy rất phát triển.
Tính chất thay đổi thủy văn theo mùa của vũng biển, vịnh biển không phức tạp nhiều như đầm phá. Do ảnh hưởng của biển nhiều hơn, độ mặn thường xuyên lớn nên quần xã sinh vật biển thường chủ đạo trong cấu trúc sinh vật vũng, vịnh biển.
Ở Việt Nam, có 12 đầm phá ven biển điển hình phân bố ở ven bờ Trung Bộ từ Thừa Thiên - Huế đến Ninh Thuận. Như đã đề cập trong phần trên, sự hình thành các thuỷ vực loại này là kết quả của mối tương tác sông - biển dưới tác động của yếu tố tự nhiên như khí hậu, địa hình, chế độ thuỷ văn và động lực phát triển mang tính chất đặc thù của khu vực. Các đầm phá ven biển miền Trung là những thuỷ vực nông, hầu như bị ngăn cách với biển bởi các bờ cát phía ngoài, nhận nước ngọt từ vài ba con sông và đổ nước ra biển qua cửa riêng của mình. Tuy nhiên, hướng dòng chảy, lưu lượng, độ sâu, diện tích, độ mặn của đầm phá một mặt thay đổi theo mùa, mặt khác thay đổi theo chế độ thuỷ triều.
Theo hình thái động lực, có 4 kiểu đầm phá là đầm phá cửa sông, đầm phá hở, đầm phá kín từng phần và đầm phá kín. Theo nguyên tắc này, Đặng Trung Thuận và nnk, (2000) đã phân chia đầm phá ở ven bờ Trung Bộ Việt Nam thành ba kiểu: Gần kín (Tam Giang-Cầu Hai, Trường Giang, Thị Nại, Cù Mông, Thủy Triều); kín từng phần (Lăng Cô, Nước Mặn, Nước Lợ, ô Loan, Trà ổ, Nại); và đóng kín (An Khê). Cũng nhóm tác giả trên, theo độ mặn đã phân biệt đầm phá ven bờ Trung Bộ Việt Nam thành ba nhóm: lợ mặn (Nước Ngọt, Thị Nại, Tam Giang, ô Loan), lợ nhạt (Cù Mông), nước ngọt (An Khê, Trà ổ). Trong loại hình đầm phá, các phá nổi tiếng là Tam Giang - Cầu Hai ở nam Thừa Thiên - Huế, các đầm lớn với nhiều thắng cảnh đẹp nổi tiếng là Lăng Cô, Thị Nại, Cù Mông và Nha Phu.
Rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn là dạng sinh cảnh khá phổ biến trên vùng triều cửa sông vùng nhiệt đới, á nhiệt đới. Rừng ngập mặn thường phát triển ở vùng triều có bãi lầy. Bãi triều lầy Nam Bộ có TVNM phát triển với các loài cây ngập mặn có kích thước lớn, cao có giá trị khai thác gỗ. Nhìn chung, bãi triều lầy vùng cửa sông hình phễu ổn định, thực vật ngập mặn phát triển. Thực vật ngập mặn vùng bãi triều lầy châu thổ kém phát triển hơn vì bị bồi tụ nhanh. Trong các vùng ĐNN ven biển, rừng ngập mặn là một HST có vai trò rất quan trọng:
-           Có mức ĐDSH phong phú;
-           Nơi nuôi dưỡng nguồn giống của nhiều loài sinh vật biển;
-           Nơi cư trú của nhiều loài sinh vật biển có giá trị kinh tế: các loài thân mềm, giáp xác, cá, chim nước;
-           Có tác dụng chắn sóng, chống xói lở bờ biển;
-           Là nơi có tiềm năng cho các hoạt động du lịch - sinh thái.
Rạn san hô (Coral reef) , thảm rong biển (seaweeds), thảm cỏ biển (seagrasses). Là các kiểu HST đặc trưng cho vùng nước ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới. Tại những vùng phân bố san hô, nước mặn (độ muối cao trên 30%o, ổn định), độ trong lớn, ổn định. Quần xã rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá trong rạn san hô.
Vùng biển quanh các đảo ven bờ. Ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất phong phú. Các đảo ven bờ có ý nghĩa ĐDSH  quan trọng của Việt Nam bao gồm Cô Tô-Thanh Lân, Trần, Ba Mùn, Cái Bầu, Cát Bà, Bạch Long Vĩ., Cồn Cỏ, Lý Sơn, Hòn Cau, Cù Lao Thu, Côn Đảo, Phú Quốc. Riêng Vịnh Hạ Long với diện tích khoảng 1.533 km2 có 1.969 hòn đảo. Trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt thuộc Vườn quốc gia Ba Mùn-Bái Tử Long và Khu Di sản thiên nhiên Hạ Long rộng 434 km2 với 788 đảo. Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức ĐDSH rất cao với các HST đặc thù như rạn san hô, rong biển, cỏ biển...
b. Thủy vực nước ngọt nội địa 
Suối. Có thể coi là sông cấp 1, một số suối lớn là sông cấp 2. Loại hình thuỷ vực này chỉ phân bố ở cảnh quan địa hình đồi núi, đầu nguồn các sông lớn. Địa hình của suối thường tương đối đồng nhất, có thể chia thành ba vùng:
-           Vùng đầu nguồn: Ở trên sườn núi, độ dốc lớn đổ xuống tạo thành thác. Nền đáy là đá tảng lớn;
-           Vùng giữa nguồn: chảy qua làng bản dân cư, đồng ruộng, địa hình bằng phẳng hơn, lòng rộng hơn, độ sâu 0,5-1 m. Nền đáy đá hòn ở giữa lòng suối, một số vùng ven bờ có đáy cát-bùn lẫn sỏi, ở các vực sâu có đáy bùn. Tốc độ dòng chảy chậm hơn, độ trong lớn nhìn thấy đáy;
-           Vùng cuối nguồn: nơi suối gia nhập sông, có thể tạo thành vịnh nhỏ hay bãi đá rộng.
Đặc tính quan trọng nhất của suối là mực nước biến đổi thất thường. Mùa mưa lũ, nước dâng cao, đôi khi đột ngột tạo thành dòng lũ lớn, nước đục ngầu, chảy xiết, có thể cuốn trôi cả những tảng đá ở lòng suối về hạ nguồn và đôi khi làm thay đổi dòng sau trận lũ, lòng suối trải rộng. Sau lũ, mực nước suối lại hạ nhanh chóng, tốc độ nước giảm, độ trong tăng lên. Hai bên bờ suối thường có thực vật lớn phát triển, mọc thành bụi. Thành phần thuỷ sinh vật đặc trưng cho HST suối bao gồm: thực vật thuỷ sinh (Macrophyta), thành phần ấu trùng côn trùng ở nước rất phong phú, các loài ốc kích thước nhỏ họ Thiariadae, Viviparidae, các loài cá kích thước nhỏ. Do độ trong lớn nên các nhóm tảo bám đá phát triển là cơ sở thức ăn quan trọng cho cá và động vật không xương sống. Theo đánh giá của nhiều tác giả (Kottelat, 1996), khu hệ thuỷ sinh vật HST suối có tỷ lệ các loài đặc hữu cao và trong kiểu HST này, còn nhiều loài còn chưa được phát hiện.
Sông. Đây là nơi cư trú rất quan trọng của các quần thể cá và các loài động vật không xương sống. Thuỷ vực này được đặc trưng bởi hàm lượng ô xy hoà tan thấp hơn so với suối, nhiệt độ cao hơn, độ đục cao hơn, hàm lượng dinh dưỡng cũng cao hơn, đáy bùn và có mùa lụt. Nền đáy sông thay đổi từ cát vùng thượng và trung lưu đến cát-bùn, bùn cát ở vùng hạ lưu. Hệ động vật đáy bao gồm các nhóm tôm, cua, trai, ốc phong phú. Mùa lụt là sự kiện quan trọng của nhiều loài cá sông. Nhiều loài cá có tập tính đẻ trứng trong mùa lụt hoặc trước khi hoặc ngay sau khi mùa lụt.  Theo các kiểu địa hình-cảnh quan, có thể phân biệt sông ở Việt Nam có hai dạng chính là sông vùng núi và sông vùng đồng bằng.
Sông vùng núi thường có lòng sông hẹp, ở tận cùng đầu nguồn thường có dạng suối, lòng sông ít khúc khuỷu, độ dốc lớn, nước chảy mạnh, chảy xiết vào mùa mưa, thường hay có ghềnh thác. Nền đáy cát, ít bùn, có phủ đá hòn, kích thước nhỏ đi về phía trung lưu.
Sông vùng đồng bằng chẩy qua vùng đồng bằng, ngoài phần hạ lưu của các sông lớn, còn đều là những sông nhỏ, mang tính chất sông ven biển. Lòng sông thường uốn khúc, nước chẩy chậm về mùa khô, chẩy mạnh vào mùa mưa. Nền đáy mềm là bùn - cát. Do địa hình bằng phẳng, tốc độ nước chảy chậm làm gia tăng khả năng bồ lắng trầm tích tạo thành các đồng bằng alluvi điển hình rộng lớn như đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và Nam Bộ. ở khu vực đồng bằng, ngoài các sông tự nhiên trong các hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cửu Long... còn có mạng lưới dày đặc các sông đào, kênh mương đào cho mục đích thuỷ nông. Một đặc điểm đáng chú ý rằng các khu vực sông vùng đồng bằng gần biển thường chịu ảnh hưởng của thuỷ triều.
Kênh rạch. Các kênh rạch tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng Nam Bộ. Môi trường nước, đặc biệt độ pH và độ mặn thay đổi rõ rệt theo mùa khí hậu. vào đầu mùa mưa, độ pH thường thấp, có tính a xít, dao động 3,5-6 do rửa trôi phèn. Vào mùa khô, do ảnh hưởng của thuỷ triều, độ mặn cao hơn. Khu hệ thuỷ sinh vật khá phong phú, bao gồm các loài phân bố rộng. Không có các loài đặc trưng.
Hồ. Các hồ có sự khác nhau theo vùng địa lý, vùng cảnh quan. Khu hệ cá hồ bao gồm nhiều loài cá ăn nổi. Mối đe doạ cho HST hồ là sự di nhập các loài cá lạ, sự ô nhiễm, sự phú dưỡng và sự thay đổi mực nước. Các quần thể thuỷ sinh vật hồ khá phong phú và nhạy cảm với những biến đổi môi trường. Các nhà sinh học cho rằng hồ có các ổ sinh thái bỏ trống trong khi một số loài lại cùng chiếm một ổ sinh thái hoặc một loài duy nhất có thể chiếm một số ổ sinh thái phụ thuộc vào mùa, hoặc giai đoạn sinh dục của cá thể. Trong thực tế tại một số hồ, cải thiện quần thể cá hồ bằng cách di nhập loài cá lạ vào sẽ làm tăng sản lượng. Nhưng hầu hết các sự di nhập loài cá lạ vào hồ sẽ gây nguy hại đến các loài bản địa, thậm chí gây tuyệt chủng một số loài địa phương nào đó. Thủy vực dạng hồ tự nhiên ở Việt Nam thường là loại hồ có kích thước nhỏ (kích thước không quá 1.000 ha), số lượng lại không nhiều. Nhìn chung, các hồ tự nhiên đã có từ lâu, có tuổi hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa.  Có thể kể một số hồ tự nhiên tiêu biểu như hồ Ba Bể ở Bắc Kạn là hồ vùng núi với diện tích khoảng 450 ha, đầm Vạc ở Vĩnh Phúc với diện tích khoảng 250 ha. ở Hà Nội, có trên 10 hồ tự nhiên với diện tích mỗi hồ trên dưới 20 ha. Trong đó, đáng kể có hồ Tây với diện tích mặt nước hơn 540 ha. Tại vùng cao nguyên Trung Bộ, có một số hồ tự nhiên vùng núi như Biển Hồ (tỉnh Gia lai) với diện tích khoảng 600 ha, hồ Lắc (Đắc Lắc) với diện tích khoảng 500 ha. Vùng cao nguyên Đà Lạt có một số hồ với diện tích xấp xỉ 1.000 ha, trong đó có hồ Đơn Dương 1.000 ha, hồ Đan Kia với diện tích 200 ha và nhiều hồ nhỏ khác.
Ao. Các ao có kích thước nhỏ hơn hồ, từ vài chục m2 đến vài trăm m2. Nhiều ao đào được sử dụng để nuôi cá, nhưng cũng có các ao tự nhiên để hoang hoá. Độ sâu của ao trên dưới 1m, nền đáy là bùn, lớp bùn có thể dày 20-40 cm, lượng dinh dưỡng cao. Hệ thuỷ sinh vật ao có nét chung là các nhóm sinh vật nổi phát triển. Hệ sinh vật đáy chủ yếu là nhóm giun ít tơ. Nếu ao có hệ thực vật thuỷ sinh bậc cao phát triển, thì hệ động vật phong phú hơn.
Đầm lầy. Do đặc tính tự nhiên, thủy vực đầm lầy thường có nhiệt độ cao hơn, hàm lượng ô xy hoà tan thấp hơn so với các thuỷ vực khác. Nhìn chung, đầm lầy là nơi có năng xuất sinh học cao. Trong HST đầm lầy, quần xã thực vật ở nước phát triển là cơ sở để động vật không xương sống đáy phát triển phong phú. Hầu hết các loài cá trong HST kiểu đầm lầy là các nhóm phát triển hệ thở không khí khí quyển như các nhóm cá đen da trơn: cá trê...Đồng Tháp Mười là vùng ĐNN đặc trưng của hạ lưu sông Mê Kông đồng thời còn là vùng ĐNN theo mùa lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Đầm lầy than bùn (peat swarmps). Đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á. Hệ thực vật vùng đầm lầy than bùn rất đơn điệu. Các kết quả nghiên cứu ít ỏi cho thấy thành phần loài cá HST đầm lầy than bùn kém phong phú. U minh thượng và U minh hạ thuộc các tỉnh Cà Mau và Kiên Giang là hai vùng đầm lầy than bùn tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Độ pH đầm lầy than bùn nghiêng a xít 3,3-6 (Whitten et al., 1987a, Ng et al., 1992, 1994). Màu nước đầm lầy than bùn thường sẫm hoặc đen. Hàm lượng can xi và ô xy hoà tan thấp. Hệ thực vật vùng đầm lầy than bùn rất đơn điệu. Các kết quả nghiên cứu ít ỏi cho thấy thành phần loài cá HST đầm lầy than bùn kém phong phú. Nhiều loài cá chỉ tìm thấy trong đầm lầy than bùn, một số loài cá kích thước nhỏ giống con giun (Kottelat và Lim, 1994), và cá đen da trơn như cá trê (Lim, 1993).
Thuỷ vực ngầm trong hang động: Thường có ở các vùng núi kác tơ. Các cơ thể sống trong HST này thường suy giảm hệ thị giác, sắc tố, cơ quan cảm giác. Hỗu hết các động vật thuỷ sinh đều phân bố hẹp trong động hoặc chỉ một hệ thống động. ậ Việt Nam, có hệ thống các sông, hồ ngầm nổi tiếng cả thế giới ở vùng núi đá vôi Phong Nha-Quảng Bình.
c. Vùng ĐNN nhân tạo
Đầm nuôi thủy sản ven biển. vùng ven biển, từ nhiều năm nay đã hình thành loại hình đầm nước lợ nuôi hải sản nhân tạo. Đây là loại hình thuỷ vực bán tự nhiên, thường nằm ở vùng cao triều và trung triều, nơi có thảm thực vật ngập mặn phát triển (rất ít đầm nuôi nằm ở vùng thấp triều do động lực nước khá mạnh nên việc xây dựng và bảo vệ đê, cống khó khăn). Phương thức hình thành các đầm nuôi nói một cách đơn giản là tại những vị trí thuận lợi về địa hình (độ cao nền bãi), chế độ nước (nước ngọt, nước mặn) được đắp đê bao quanh và xây lắp các cống cấp thoát nước. Diện tích các đầm nuôi một mặt phụ thuộc vào khả năng địa hình cho phép, mặt khác phụ thuộc vào phương thức nuôi. Đầm nuôi theo kiểu quảng canh cải tiến (có một phần chủ động con giống và thức ăn) thì có diện tích nhỏ hơn, thường là từ dưới 1 ha đến trên dưới 10 ha. Đầm nuôi bán thâm canh có diện tích nhỏ, chỉ từ 0,1 ha đến 2 ha. Trong các đầm nuôi quảng canh hoặc quảng canh cải tiến còn lại một ít diện tích thực vật ngập mặn. Nhìn chung, thảm thực vật ngập mặn trong đầm nuôi kém phát triển. Còn đầm nuôi theo kiểu  thâm canh, hoặc nuôi theo kiểu công nghiệp năng xuất cao (chủ động hoàn toàn con giống, thức ăn và cấp thoát nước) thì diện tích đầm rất nhỏ vài trăm mét vuông.
Hồ chứa. Là loại hình thuỷ vực nhân tạo để chứa nước phục vụ chủ yếu cho thủy lợi và thủy điện. Sự thay đổi từ HST sông, suối vốn phong phú và đa dạng về thành phần loài sang HST hồ chứa có thành phần loài kém phong phú hơn. Các hồ chứa đều có đặc tính chung là trong giai đoạn đầu mới ngập nước thường phải trải qua giai đoạn yếm khi và bị nhiễm một số độc tố do quá trình phân huỷ thảm thực vật bị ngập nước. Trong khoảng trên ba thập kỷ trở lại đây, do nhu cầu sử dụng tài nguyên nước cho thuỷ lợi, thuỷ điện, ở Việt Nam đã hình thành rất nhiều hồ chứa nước với các kích thước khác nhau. Số lượng các hồ chứa đã được xây dựng cho đến nay chưa được thống kê đầy đủ. Theo một số tác giả, hiện nay có khoảng 3.600 hồ chứa (Nguyễn Đình Trọng, 1994). Nếu chỉ tính các hồ có dung tích trên 1 triệu m3 thì có khoảng 460 hồ. Nguyễn Văn Hảo (1994) đã đưa ra con số 539 hồ chứa đang được nuôi thuỷ sản. So với hồ tự nhiên, số lượng hồ chứa nhiều gấp 2,4 lần và gấp 7,3 lần về diện tích mặt nước.
Ruộng lúa nước. Là dạng thuỷ vực đặc trưng cho vùng nhiệt đới Châu Á, nước nông, ngập nước theo mùa. Nhiệt độ nước cao, hàm lượng ô xy hoà tan thấp, hệ thuỷ sinh vật kém phong phú.  Trong tổng số  khoảng 8,4 triệu ha đất dùng cho nông nghiệp,  thì diện tích đất trồng lúa tới 4,8 triệu ha, tập trung ở địa hình-cảnh quan đồng bằng, trong đó, chủ yếu là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ. Theo thống kê, tại các vùng đất trống đồi núi trọc, diện tích lúa nước có thể tới 358.842 ha (Trần An Phong, 1993).

Trên đây là một số kiểu HST ĐNN và thuỷ vực tiêu biểu có ở Việt Nam.  Mỗi kiểu HST như vậy có khu hệ thuỷ sinh vật đặc trưng của mình. Tuy nhiên, đặc tính khu hệ của các HST kể trên còn phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên. Trong các kiểu HST trên, đặc điểm thuỷ sinh học và môi trường nước thuỷ vực thuỷ vực đầm lầy than bùn và trong hang động ngầm kác tơ được ít biết đến (biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005.

2 nhận xét:

  1. Cảm ơn tác giả về bài viết. Với mong muốn mang lại những sản phẩm chất lượng cho cộng đồng. Công ty Equip xin chia sẻ thêm về giải pháp máy bơm chìm thoát nước mưa, nhập khẩu từ Ý. Vui lòng click máy bơm chìm thoát nước mưa để biết thêm chi tiết.

    ReplyDelete
  2. Kiến thức trong bài viết của bạn rất hay, cám ơn bạn rất nhiều. Ghé thăm website của mình bạn nhé: bơm nhiệt công nghiệp

    ReplyDelete

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!