02/06/2014

Cách mạng Nông nghiệp tác động thế nào đến môi trường?

cach-mang-nong-nghiep
Khoảng 10 - 12 nghìn năm trước đây, cuộc cách mạng nông nghiệp bắt đầu diễn ra tại một số khu vực trên thế giới. Cuộc cách mạng kéo theo sự thay đổi lối sống từ săn bắn, hái lượm chuyển sang thuần hóa động vật và canh tác cây trồng. Nguyên nhân thực sự của sự chuyển đổi này hiện vẫn còn tranh cãi. Có quan điểm cho rằng đó là do sự biến đổi khí hậu buộc con người phải thích nghi với điều kiện mới. Song cũng có thể mỗi vùng lại có những nguyên nhân cụ thể khác nhau. 
Có lẽ việc trồng cây đã được phát triển đồng thời ở nhiều khu vực trên trái đất, trong đó phổ biến hơn cả là tại các vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á, đông nam châu Phi và Mexico. Hình thức đầu tiên của hoạt động nông nghiệp là đốt nương làm rẫy và du canh. Sau khi một khoảnh rừng nhiệt đới được đốt để lấy đất canh tác, người dân có thể gieo trồng trong một vài năm. Sau đó người dân sẽ di chuyển đến những cánh rừng mới rồi lại phát nương, làm rẫy, bỏ lại vùng đất đã canh tác tự hồi phục chất dinh dưỡng. Người nông dân đã phát hiện ra rằng mỗi ruộng đất nên được bỏ hóa từ 10 đến 30 năm để độ phì nhiêu kịp phục hồi, đủ để gieo trồng lứa mới. Trong quá trình đất hồi phục, người ta thường trồng cây lâu năm, cây lấy củi, cây thuốc hoặc dùng vào một số mục đích khác. Với tập quán này, hầu hết những người nông dân thời kỳ đầu của phát triển nông nghiệp đã thực hiện canh tác bền vững. 
Hình thức canh tác du canh nói trên mang đậm tính chất tự cung tự cấp vì họ chỉ gieo trồng đủ cho nhu cầu của gia đình. Với sức mạnh cơ bắp và công cụ bằng đá là chủ yếu thì người nông dân chỉ có thể canh tác trên những diện tích nhỏ hẹp, từ đó gây tác động rất ít đến môi trường. Một lý do nữa khiến hình thức canh tác này bền vững là vì kích thước dân số và mật độ dân số giai đoạn này là không cao. Điều đó cho phép con người có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác và bỏ đất hoang trong hàng thập kỷ để chúng tự hồi phục chất dinh dưỡng.
Sau này, khi máy cày, thủy lợi và một loạt các công cụ hỗ trợ nông nghiệp ra đời, người nông dân có khả năng canh tác những vùng đất rộng lớn hơn và tại những vùng đất vốn trước đây khó canh tác như đồng cỏ hay những vùng khô hạn. Như vậy, nông nghiệp du canh dần dần được thay thế bằng nông nghiệp định canh, trong đó cây cối được trồng trọt trên những diện tích đất cố định và gia súc được nuôi trong chuồng trại. Sự chuyển dịch từ xã hội săn bắn, hái lượm sang canh tác nông nghiệp đã có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến môi trường, cụ thể như sau:
- Nhìn dưới góc độ dân số, sự mở rộng phát triển sản xuất theo hướng cơ giới hóa nông nghiệp đã khiến cho tỷ lệ sinh tăng nhanh hơn tỷ lệ chết, dẫn đến gia tăng dân số vì thức ăn ngày càng dồi dào, chất lượng thức ăn ngày càng tốt hơn đủ cung cấp cho nhiều người;
- Dân số tăng sẽ cần nhiều thức ăn, nhiều năng lượng và vật liệu xây dựng, do đó con người đã chặt phá những cánh rừng và cày xới những vùng đồng cỏ rộng lớn khiến cho nhiều nơi cư trú của động thực vật hoang dã bị phá hủy, nhiều loài động thực vật đã bị tuyệt chủng;
- Xói mòn đất, phèn hóa đất tưới tiêu và sự chăn thả quá mức đã dẫn đến sa mạc hóa hay bồi lắng các thủy vực, nguồn nước. Sự suy thoái môi trường này chính là một trong những nhân tố gây nên sự sụp đổ của các nền văn minh ở Trung Đông, Bắc Phi và vùng Địa Trung Hải;
- Cuộc sống định cư và canh tác nông nghiệp khiến người nông dân thoát dần khỏi tự cung tự cấp. Họ có thể tạo ra nhiều lương thực thực phẩm hơn để tích trữ những khi “giáp hạt” và để trao đổi các hàng hóa, dịch vụ khác. Con người bắt đầu tích lũy tài sản;
- Đô thị hóa - sự hình thành các thị trấn thị tứ hay thành phố - đã ngày càng phát triển. Nhiều làng xã đã trở thành đô thị, là những trung tâm văn hóa, chính trị, thương mại, tôn giáo. Nhưng đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều hơn rác thải, nước thải, ô nhiễm không khí và nguy cơ cao của các bệnh truyền nhiễm;
- Xung đột trong xã hội ngày càng phổ biến khi quyền về đất đai và quyền sử dụng tài nguyên nước trở thành những vấn đề có tính quyết định. Các thế lực có quyền lực là những người chiếm cứ những vùng đất đai và nguồn nước rộng lớn. Họ buộc những người nông dân không có đất trở thành nô lệ, phải làm những công việc khổ sai, cực nhọc;
- Sự tồn tại của các loài động thực vật hoang dã trở nên ít quan trọng, mặc dù trước đây chúng đã từng là nguồn tài nguyên thiết yếu cho con người. Bị quan niệm cho rằng các loài động vật hoang dã cạnh tranh nơi kiếm ăn và thức ăn với các loài vật nuôi, các loài hoang dã đã bị tiêu diệt hoặc nơi cư trú của chúng đã bị phá hủy. Đối với thực vật, những loài nào xâm lấn vào ruộng canh tác sẽ bị coi là cỏ dại và phải loại bỏ.
Như vậy, sự mở rộng phát triển nông nghiệp có nghĩa rằng hầu hết dân cư trên trái đất này đã chuyển đổi dần dần từ người săn bắn, hái lượm - là những người sống cùng thiên nhiên trở thành người nông dân hay dân thành thị - là những người muốn khống chế thiên nhiên.

Xem thêm: 

0 nhận xét:

Post a Comment

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!