06/06/2014

Cháy rừng và hậu quả với môi trường và Đa dạng Sinh học

chay-rung-khop
Rừng Khộp ở Atapeu - Lào bị cháy năm 2013
Cháy rừng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực tới diễn biến rừng, môi trường và ĐDSH. Những hậu quả do cháy rừng gây ra đối với ĐDSH xuất hiện vừa tức thời vừa lâu dài trên nhiều phương diện; đặc biệt trong điều kiện rừng nhiệt đới, hậu quả của cháy rừng đối với môi trường và ĐDSH là vô cùng to lớn. 
Với nhiều nguyên nhân khác nhau như làm đường băng cản lửa, làm kênh mương không đúng qui hoạch đã làm cho rừng bị chia cắt manh mún. Khi khu rừng bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ, gió sẽ mạnh hơn lên, độ ẩm giảm và nhiệt độ phần biên của rừng cũng cao hơn dẫn đến nguy cơ cháy rừng nhiều hơn. Lửa từ các khu đốt rẫy thường xuyên hàng năm có thể cháy lan vào rừng hoặc từ khu đốt lá trong khi thu hoạch mía, hoặc từ những nơi nông dân đốt rừng làm rẫy, đốt than, hun khói lấy mật ong. Đó là hậu quả do rừng bị chia cắt xâm lấn để lấy đất làm nông trại, hoặc do việc khai thác chọn. Các cây bụi phát triển mạnh sau khi các cây to bị đốn và những đám cháy rừng do con người đã gây ra những thảm họa môi trường (Leighton and Wirrawan, 1986; ADB, 1995; Phạm Bình Quyền, 2002) 
Ví dụ tại vùng Borneo của Inđônêxia, hàng triệu ha rừng ẩm nhiệt đới bị đốt cháy vào những năm hạn hán (1982, 1983, 1997, 1998) đã gây nên tổn thất to lớn đối với ĐDSH và phát triển kinh tế của khu vực. Hoặc vụ cháy rừng tràm ở VQG U Minh Thượng, U Minh Hạ vào tháng 3-4/2002 đã làm thiệt hại khoảng 4.300 ha rừng, làm cho 7 loài thú bị xóa sổ (dơi ngựa lớn, dơi ngựa Thái Lan, mèo cá, tê tê, cầy giông đốm, cầy vòi hương, mèo rừng), làm cho cấu trúc thành phần loài chim thay đổi do mất nơi cư trú như bồ nông xám, cốc đen, quắm đen, quạ đen, cú lợn lưng xám, các loài bò sát như kỳ đà, trăn đất, rắn ráo trâu, rắn hổ mang. Sự thay đổi cấu trúc thành phần loài trong quần xã rừng tràm mà chủ yếu là các loài ở đỉnh tháp dinh dưỡng, bao gồm các loài ăn thịt lớn. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng mất cân bằng sinh thái, nạn dịch chuột và các sinh vật hại sẽ bùng phát. 
Nguyên nhân chủ yếu của sự cháy rừng là do con người gây ra, đó là giai đoạn tiếp theo của nạn chặt phá rừng khai hoang, phát đốt chuẩn bị đất canh tác nương rẫy, trồng cây công nghiệp hoặc dọn các bãi cỏ tự nhiên để chăn nuôi trâu, bò. 
Trong những trường hợp như vậy cháy rừng không chỉ xảy ra trên chính những diện tích bị phát đốt mà còn lan rộng ra các diện tích kế cận. 
Ở Việt Nam, mức độ cháy rừng trong thời kỳ từ năm 1995 trở lại đây đã giảm nhiều so với các giai đoạn trước đó nhưng tính trầm trọng của một số vụ lại tăng lên như các vụ cháy rừng Tràm U Minh vào các năm 2002-2003 (Bảng 3.10) 
Bảng 3.10. Tình hình cháy rừng tại một số thời điểm (ĐV: ha)
Năm
1990
1995
1996
1997
1998
2002
2003
DT rừng bị cháy (kiểm soát được)
20.275
70429
4198
1750
17408
15548
2718
DT rừng bị cháy không kiểm soát được (% so với rừng bị cháy được thống kê)
30%, chủ yếu ở ĐNB, Tây Nguyên và ĐBSCL
12%
9%
4%
25%, Tây Bắc, Tây Nguyên, Duyên Hải, NTB
12% Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên
--


Mức độ hậu quả ảnh hưởng tới môi trường:
Tiêu diệt hoàn toàn HST, hủy diệt rừng;
Làm đất thoái hóa;
Cạn kiệt nguồn nước;
Ô nhiễm do CO2, tro bụi.


20%

41%
27%
2%


3%

36%
60%
1%


4%

47%
46%
3%


2%

52%
48%
2%


17%

42%
34%
7%


13%

37%
--
--


--
--
--
--
Nguồn: Báo cáo nghiên cứu hàng năm tình trạng rừng bị cháy/ Dự án phòng chống cháy rừng cấp Nhà nước-Cục Kiểm lâm, 2002. ĐNB: Đông Nam Bộ; ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long; NTB: Nam Trung Bộ. 
Những năm 1998, 2001, 2002 những tác động của hiện tượng El Nino và hạn hán đến Việt Nam và các nước trong khu vực cũng rất rõ rệt, yếu tố nóng khô kéo dài ở nhiều vùng đã cộng hưởng với nhiều vụ cháy rừng làm gia tăng mức độ nghiêm trọng, đặc biệt ở các vùng Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và ven biển ĐBSCL. Ngoài ra tình trạng cháy lan mạnh và rộng ở Tây Nguyên trong năm 1998 chủ yếu từ những điểm cư trú của các nhóm dân di cư tự do không kiểm soát được. 
Các tỉnh vùng Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái) trên lưu vực sông Đà với những khu rừng thứ sinh, rừng non sau phục hồi trên những lập địa dốc và xấu sau khai thác kiệt hoặc sau nương rẫy lâu năm bị đốt phá nặng nề từ những năm trước năm 1995, đến nay đang là hiện trường lũ quét nghiêm trọng nhất ở Việt Nam, Mức độ xói mòn sụt lở do lũ quét trên lưu vực sông Đà đối nghịch với nạn khô hạn, bạc màu đất xuất hiện liên tục trong 2 năm 1997 và 1998, gấp nhiều lần so với cả thập kỷ 80. Tình trạng thiên tai cực đoan trên lưu vực sông Đà có nguyên nhân chủ yếu là do đốt phá rừng, do lửa rừng gây lên tác động tiêu cực tới môi trường vùng.(biodivn.blogspot.com).
Tài liệu tham khảo: Đa dạng Sinh học và Bảo tồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005. 

Xem thêm: 

2 nhận xét:

  1. Bạn chưa biết hay chưa có kinh nghiệm trong Cách viết báo cáo hoàn thành DTM Ðánh giá tác động môi trường, mình sẽ giúp bạn Cách viết báo cáo hoàn thành DTM hoàn chỉnh, tham gia trực tiếp, làm việc và nghiên cứu trên dự án ESTELA đang thi công


    Thông tin dự án: Cách viết báo cáo hoàn thành DTM

    Mọi thông tin liên hệ

    - Chuyên viên môi truờng: TRẦM NGUYỄN HOÀNG NAM

    - Mobile: (08) 38942582 – 0945100009

    - Ðịa chỉ văn phòng: 372/1 Nguyễn Văn Nghi, p7, Gò Vấp

    - Email: kd3@phongvietjsc.com

    ReplyDelete
  2. Hiện bên tôi đang mở lớp học viết báo cáo hoàn thành đề án bảo vệ môi trường.
    Hãy liên hệ ngay với chúng tôi và bạn sẽ biết được cách viết báo cáo đề án bảo vệ môi trường chi tiết.
    Website: cach viet bao cao hoan thanh de an bao ve moi truong chi tiet

    ReplyDelete

Cảm ơn bạn đã để lại ý kiến, giúp chúng tôi cung cấp thông tin đầy đủ hơn nữa!